GIÁO SƯ VŨ HÀ VĂN: “KHOA HỌC CẦN SỰ CHIA SẺ”.

Giáo sư Vũ Hà Văn (Giáo sư Đại học Yale và Giám đốc Khoa học Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata) đã có những chia sẻ hết sức gần gũi trong lễ khai mạc Ngày Khoa học Công nghệ. Theo Giáo sư Vũ Hà Văn, chương trình Ngày Khoa học Công nghệ là dịp để trao đổi, chia sẻ tri thức, lan toả và truyền cảm hứng nghiên cứu khoa học công nghệ tới những người trẻ, và cùng nhau tìm ra lời giải cho bài toán cấp bách ngay lúc này: Làm thế nào để khoa học – công nghệ phát huy tối đa vai trò dẫn dắt, đưa xã hội vượt qua đại dịch và ổn định trong giai đoạn bình thường mới.


Bên cạnh đó, Giáo sư Vũ Hà Văn đã chia sẻ quan điểm về đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản: “Việc đầu tư cho khoa học cơ bản là hướng đi bền vững nhất, song song phát triển các sản phẩm công nghệ có tính ứng dụng cao”. Với khoa học cơ bản, có thể chưa có thành tựu ngay lập tức, song đây sẽ là tiền đề quan trọng để tạo nên những đột phá trong tương lai. Chẳng hạn, mọi kết quả đạt được hiện nay: từ việc đẩy nhanh quá trình xét nghiệm virus đến rút ngắn thời gian phát triển vaccine từ vài năm xuống còn hơn một năm, tất cả đều kế thừa từ những nghiên cứu về khoa học phân tử cơ bản. Đối với công nghệ ứng dụng, bên cạnh các sản phẩm, giải pháp giúp con người thích ứng nhanh, linh hoạt và kịp thời trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, thì cũng có những sản phẩm thể hiện tầm nhìn xa, nhằm cải thiện đời sống xã hội. Một số ví dụ như ứng dụng AI trong chẩn đoán ảnh y tế, hướng tới sàng lọc sức khỏe dân số trên diện rộng hay những giải pháp của các doanh nghiệp đang hướng tới nâng cao trải nghiệm khách hàng, gia tăng năng suất, hiệu quả kinh doanh (như trợ lý ảo, tổng đài tự động).


“Chúng ta đều nhận thức rõ hai hướng đi trên, tuy nhiên, khó khăn lúc này của cộng đồng khoa học – công nghệ Việt Nam là làm sao kết nối nguồn lực, thúc đẩy trao đổi dữ liệu và tri thức, cộng hưởng để cùng nhau kiến tạo những giải pháp hữu ích cho xã hội. Bởi lẽ, chỉ có chia sẻ mới là cách tốt nhất giúp chúng ta khai thác và tận dụng được tối đa nguồn dữ liệu khổng lồ sản sinh từ những hoạt động số hóa. Không có chia sẻ dữ liệu, không có sự hợp lực, con người khó có thể tạo nên bứt phá, đặc biệt đối với những lĩnh vực đòi hỏi hàm lượng chất xám cao như khoa học – công nghệ. Đây vốn là bài toán lớn của Việt Nam trong nhiều năm qua, và ngay tại thời điểm này, càng cấp thiết hơn bao giờ hết.” – Giáo sư Vũ Hà Văn khẳng định.


Để khoa học Việt Nam đi được đường dài, Giáo sư Vũ Hà Văn cho biết nhiệm vụ hàng đầu là phải xây dựng được một mạng lưới bền vững kết nối những nhà nghiên cứu, những kỹ sư công nghệ, những bộ óc khoa học tiềm năng. Để đạt được mục tiêu này sẽ cần sự đầu tư bài bản, nghiêm túc, tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà nghiên cứu. Song song, cần đẩy mạnh các hoạt động lan tỏa tri thức, truyền cảm hứng cho những người trẻ phát huy năng lực đổi mới sáng tạo. Đây cũng chính là sứ mệnh, phương châm của Quỹ VINIF, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata kể từ khi thành lập, điều này được thực hiện thông qua các dự án đào tạo, tài trợ, kết nối mạng lưới trí thức Việt Nam và thế giới trong gần 3 năm vừa qua.


Giáo sư Vũ Hà Văn tin tưởng rằng, chương trình Ngày Khoa học Công nghệ Việt Nam năm 2021 sẽ là một trong những hoạt động ý nghĩa trong công cuộc lan tỏa tri thức, xây dựng văn hóa, tác phong nghiên cứu chuyên nghiệp tại Việt Nam. Đây cũng chính là sức mạnh để thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ Việt – vì một tương lai Việt Nam giàu mạnh, hùng cường.

GS. Vũ Hà Văn phát biểu tại Lễ khai mạc Ngày Khoa học Công nghệ.

Chương trình Ngày Khoa học Công nghệ với chủ đề “Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai” được Trung tâm Quốc tế Đào tạo và Nghiên cứu Toán học UNESCO và Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) đồng tổ chức vào ngày 12/6 vừa qua.


📍 Để xem lại lễ khai mạc và chuỗi 06 bài giảng đại chúng của chương trình, các bạn truy cập tại các đường Link:


📌 Lễ khai mạc: https://www.youtube.com/watch?v=axEC9zi1ZpQ


📌 Bài giảng 1: “Từ khảo cổ đến công nghệ thực tế ảo: Trường hợp Chùa Một Cột thời Lý năm 1105” của PGS.TS. Trần Trọng Dương: https://www.youtube.com/watch?v=9XRrtVvdSAo


📌 Bài giảng 2: “Một số bài toán hình học và giản đồ cây trong virus” của PGS.TS. Nguyễn Thế Toàn: https://www.youtube.com/watch?v=wUolsoguTgA


📌 Bài giảng 3: “Công nghệ sản xuất vắc xin COVID-19: Bối cảnh Việt Nam – Thế giới trong sản xuất vắc xin và những điều cần lưu ý khi tiêm vắc xin COVID–19 tại Việt Nam” của TS.BS. Phạm Quang Thái: https://www.youtube.com/watch?v=c8xISa_cFUk


📌 Bài giảng 4: “Giải mã gen Việt trong kỷ nguyên Khoa học Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo” của TS. Võ Sỹ Nam: https://www.youtube.com/watch?v=H_MvCrCN_LY


📌 Bài giảng 5: “Linked Data cho dữ liệu mở trong nông nghiệp nông thôn” của PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh: https://www.youtube.com/watch?v=VXaE2Z2Rswk


📌 Bài giảng 6: “Thống kê – Chiếc cầu kết nối Toán học với các Khoa học thực nghiệm” của PGS.TS. Hồ Đăng Phúc: https://www.youtube.com/watch?v=znR5r7S6kCw

📍 Ngoài ra các bạn có thể xem tại các trang mạng xã hội sau:

Fanpage của Viện Toán học: https://www.facebook.com/vientoanhoc

Fanpage của Quỹ VINIF: https://www.facebook.com/vinif.org

Fanpage của Trung tâm Thông tin – Tư liệu (VAST): https://www.facebook.com/bantin.khcn

Youtube Nhà báo Phan Đăng: https://www.youtube.com/watch?v=poQm92nvJMs

(Báo Lao Động Trẻ) Ngày 12.6, Trung tâm Quốc tế Đào tạo và Nghiên cứu Toán học UNESCO (Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF), Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn (VINBIGDATA) sẽ đồng tổ chức chương trình Ngày Khoa học – Công nghệ với chủ đề “Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai”. Chương trình sẽ mang tới các góc nhìn chuyên gia xung quanh tiềm năng ứng dụng của khoa học – công nghệ vào nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.

Chương trình sẽ diễn ra từ 9h00 đến 17h00 cùng ngày, tại Hội trường Hoàng Tụy, Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đặc biệt, chương trình được phát trực tuyến trên Fanpage của VINIF, Viện Toán học và một số kênh trực tuyến khác.

Chương trình có sự tham dự của nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân, GS. Ngô Bảo Châu và GS. Vũ Hà Văn, PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương. Đáng chú ý, chương trình đem đến cho những người tham dự 6 bài giảng của 6 nhà khoa học uy tín: PGS.TS. Trần Trọng Dương, PGS.TS. Nguyễn Thế Toàn, TS.BS. Phạm Quang Thái, TS. Võ Sỹ Nam, PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh, PGS.TS. Hồ Đăng Phúc.

Trong buổi sáng, mở đầu chuỗi bài giảng là bài giảng “Từ khảo cổ đến công nghệ thực tế ảo: Trường hợp Chùa Một Cột thời Lý năm 1105” của PGS. TS. Trần Trọng Dương.

PGS.TS. Trần Trọng Dương là Trưởng phòng nghiên cứu Minh Văn – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Giảng viên sau ĐH của Học viện Khoa học xã hội (GASS, VASS), Leader- Co Founder của SEN Heritage. Ông là một nhà nghiên cứu về nhân văn, với các lĩnh vực chuyên môn hẹp như Hán học, văn tự học chữ Nôm, lịch sử kiến trúc, biểu tượng Phật giáo, lịch sử mĩ thuật, lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Bên cạnh đó, ông còn là thành viên cộng tác của Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm (USA).

PGS.TS. Trần Trọng Dương sẽ đưa đến cho chúng ta nhiều góc nhìn thú vị dành cho cộng đồng yêu công nghệ và lịch sử. Bài giảng nhắc đến những vấn đề cụ thể trong quá trình nghiên cứu, phỏng dựng kiến trúc một cột chùa Diên Hựu thời Lý. Bắt đầu bằng cứ liệu bi ký năm 1121, đến việc lắp ghép hàng ngàn mảnh vụn khảo cổ học, để đưa ra giả thuyết khoa học. Tiếp đến, bài nói chuyện sẽ trình bày lý thuyết mandala, các thao tác trong nghiên cứu, và phỏng dựng kiến trúc một cột thời Lý bằng công nghệ thực tế ảo.

PGS.TS. Nguyễn Thế Toàn và bài giảng “Một số bài toán hình học và giản đồ cây trong virus”.

Trong bài giảng này, chúng ta sẽ tìm hiểu một số đặc tính thú vị về cấu trúc và hoạt động của virus từ các xem xét vật lý và hình học đơn giản. Người theo dõi bài giảng còn được học về cấu trúc đa diện đều của vỏ virus, cách phân loại Caspar-Klug, về độ cứng đáng ngạc nhiên của vỏ virus, về cách đóng gói ADN và ARN trong virus. Ngoài ra, diễn giả sẽ mở rộng thêm một số bài toán tương tác vật lý thú vị và không trực quan trong các virus như HIV, COVID-19, chẳng hạn như sự hút nhau của các điện tích cùng dấu, hiện tượng đảo dấu điện tích, quá trình làm ướt bề mặt. Tất cả đều có thể hiểu được bằng các kiến thức vật lý và hình học ở cấp phổ thông.

PGS.TS. Nguyễn Thế Toàn là Trưởng Khoa Vật lý, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Khoa học tính toán đa tỉ lệ cho các Hệ phức hợp – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông đã có công bố khoa học trên các tạp chí hàng đầu như Nature Materials, Review of Modern Physics, và nhiều tạp chí đầu ngành Q1 khác, với hơn 3000 trích dẫn.

TS. BS. Phạm Quang Thái và bài giảng “Công nghệ sản xuất vắc xin COVID-19 – Bối cảnh Việt Nam – Thế giới trong sản xuất vắc xin và những điều cần lưu ý khi tiêm vắc xin COVID–19 tại Việt Nam”.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia, miễn dịch cộng đồng với COVID-19 chỉ có thể đạt được khi 70% dân số được tiêm chủng vắc xin. Do đó, hiện nay các quốc gia đều đang nỗ lực hết công suất trong cuộc đua này. Hàng trăm loại vắc xin đã được tạo ra bằng nhiều công nghệ khác nhau, tuy nhiên, chỉ số ít trong đó đạt được thành công.

Như vậy, làm thế nào để đảm bảo tối đa tính an toàn trong sản xuất và tiêm chủng vắc xin COVID-19? Từ những bài học của Thế giới, Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệm gì? Bài giảng đại chúng của TS.BS. Phạm Quang Thái sẽ cùng chúng ta đi tìm câu trả lời.

TS.BS. Phạm Quang Thái hiện đang là Phó trưởng Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm- Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Phó trưởng Bộ môn Thống kê, Tin học Y học – Trường Đại học Y Hà Nội, đồng thời đảm nhiệm vị trí Tổ phó Tổ Thông tin đáp ứng nhanh, trực thuộc Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19.

Trong buổi chiều, TS. Võ Sỹ Nam sẽ tiếp nối chương trình với bài giảng “Giải mã gen Việt trong kỷ nguyên Khoa học Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo”.

Kể từ khi dự án giải mã hệ gen người đầu tiên trên thế giới hoàn tất vào năm 2003, đã có rất nhiều dự án quy mô lớn tiếp theo được thực hiện. Trong số đó có thể kể đến dự án giải mã hệ gen của hơn 2,500 người từ 5 châu lục hay dự án giải mã hệ gen của hơn 11,000 bệnh nhân với 33 loại ung thư khác nhau. Các dự án này đã góp phần cách mạng hóa hiểu biết của loài người về hệ gen cũng như cải thiện việc chẩn đoán và điều trị bệnh trên người.

Vậy trong một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Khoa học Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo, các dự án giải mã gen sẽ được hưởng lợi gì từ những tiến bộ của công nghệ?

Đi tìm lời đáp cho câu hỏi kể trên, bài giảng đại chúng “Giải mã gen Việt trong kỷ nguyên Khoa học Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo”, được trình bày bởi TS. Võ Sỹ Nam sẽ mang tới những góc nhìn thú vị xung quanh câu chuyện giải mã hệ gen người Việt.

TS. Võ Sỹ Nam hiện là Chuyên gia Nghiên cứu Tin sinh học, Trưởng phòng Tin Y sinh Ứng dụng, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn Vingroup Big Data Institute (VinBigdata). Anh cùng cộng sự phụ trách nghiên cứu và phát triển các hệ thống phân tích và chú giải dữ liệu y sinh học quy mô lớn, cũng như các mô hình dự đoán nguy cơ bệnh, tác dụng phụ của thuốc, hướng tới xây dựng những giải pháp hỗ trợ chẩn đoán và điều trị bệnh. TS. Nam đã có hơn 10 năm làm việc trong lĩnh vực Tin sinh học tại các lab nghiên cứu lớn ở Mỹ trước khi gia nhập VinBigdata. Anh đã công bố nghiên cứu trên nhiều tạp chí và hội nghị khoa học uy tín trong đó có Immunity (Cell), Cell Reports, Human Genome Variation (Nature).

PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh và bài giảng “Linked Data cho dữ liệu mở trong nông nghiệp nông thôn”.

Dữ liệu Liên kết (Linked Data) là một trong những khái niệm và trụ cột chính của Web Ngữ nghĩa (Semantic Web), còn được biết tới như là Web của Dữ liệu. Sự ra đời của hai khái niệm này đã giúp cho việc chia sẻ dữ liệu trên Web có thể được thực hiện một cách dễ dàng hơn, đồng thời tạo điều kiện tối đa cho quá trình khai thác thông tin theo nhu cầu của mỗi người dùng.

Vậy cụ thể, cần hiểu như thế nào về Web Ngữ nghĩa và Dữ liệu Liên kết? Tiềm năng ứng dụng của nó đến đâu trong thực tế đời sống?

PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh sẽ giới thiệu về các khái niệm cơ bản của Web Ngữ nghĩa, cũng như công nghệ mới Linked Data trong ngữ cảnh liên tác và tạo ngữ nghĩa cho một thế hệ ứng dụng thông minh và phát triển Web thành một không gian dữ liệu toàn cầu. Đồng thời, với kinh nghiệm giải quyết các bài toán thực tiễn, Diễn giả cũng sẽ nêu ra một số thách thức và các vấn đề nghiên cứu liên quan.

PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh là Giám đốc Trung tâm Đào tạo Quốc tế, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT), đồng thời đảm nhiệm vị trí Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học của Hợp tác xã Nông nghiệp Số. Ông đã xuất bản nhiều công trình trên các tạp chí peer-review quốc gia và quốc tế, tích cực tham gia các hoạt động tổ chức hội thảo và hội nghị quốc tế AI Việt Nam.

PGS.TS. Hồ Đăng Phúc và bài giảng “Thống kê – Chiếc cầu kết nối Toán học với các Khoa học thực nghiệm”.

Có thể nói, sự trừu tượng đã đem lại cho toán học vẻ đẹp và ý nghĩa đặc biệt. Song, từ vẻ đẹp trừu tượng ấy đến những ứng dụng sinh động trong thực tế, từ toán học đến các ngành khoa học thực nghiệm, mối liên kết là gì?

Theo PGS.TS. Hồ Đăng Phúc, câu trả lời nằm ở Thống kê – một lĩnh vực chuyên cung cấp các công cụ tư duy và tính toán cho nghiên cứu trong hầu hết các khoa học thực nghiệm. Nói cách khác, Thống kê chính là một chiếc cầu liên kết Toán học với thực tế sinh động, hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng của nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội. Ngoài ra, thông qua một số minh chứng cụ thể về các bài toán của Y học, Bào chế dược phẩm, Môi trường, Lâm nghiệp, Xây dựng, sản xuất kinh doanh, PGS.TS. Hồ Đăng Phúc sẽ phân tích những tác động tích cực của thống kê đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học.

PGS.TS. Hồ Đăng Phúc là Nguyên Trưởng phòng Xác suất thống kê – Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ông tốt nghiệp Thạc sĩ Toán học, Đại học Tổng hợp Wroclaw (Ba Lan), sau đó, nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành Toán – Lý, Lý thuyết Xác suất và Thống kê toán học tại Viện Toán học.

Chương trình hưởng ứng Ngày Khoa học – Công nghệ Việt Nam (18.5), với mục tiêu góp phần phát triển cộng đồng khoa học trong tương lai. Chương trình hy vọng sẽ phát động tinh thần nghiên cứu khoa học và công nghệ, phát huy tiềm năng của đội ngũ các nhà khoa học trẻ tại Việt Nam.

Bài viết trên Báo Lao Động Trẻ

Từ năm 2014 đến nay, ngày 18/5 hàng năm được lựa chọn trở thành Ngày Khoa học – Công nghệ Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng của cộng đồng Khoa học – Công nghệ trong nước, nhằm ghi nhận, vinh danh những nỗ lực, thành công của ngành KH&CN trong những năm vừa qua, đồng thời định hướng hoạt động, mục tiêu phát triển trong thời gian tới.

Hưởng ứng tinh thần này, Trung tâm Quốc tế Đào tạo và Nghiên cứu Toán học UNESCO (Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF), Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn (VINBIGDATA) đồng tổ chức Chương trình Ngày Khoa học – Công nghệ Việt Nam năm 2021 với chủ đề: “Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai”.

Sự kiện bao gồm chuỗi 06 Bài giảng đại chúng với các chủ đề về các ứng dụng của khoa học và công nghệ vào các ngành nghề khác nhau như nông nghiệp, y học, khảo cổ,… qua sự trình bày của các nhà khoa học Việt Nam. Chương trình được LIVESTREAM TRỰC TUYẾN từ Hội trường Hoàng Tụy, Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Với sự góp mặt của các nhà khoa học uy tín Việt Nam, cùng với các chủ đề đa dạng, cấp thiết trong đó có dịch bệnh COVID-19, sự kiện hy vọng sẽ lan tỏa được những kiến thức khoa học công nghệ mới tới đại chúng và tiếp thêm động lực cho các nhà khoa học trẻ tại Việt Nam!

📅 Thời gian: 9h00 – 17h00, Thứ 7, 12/06/2021

🏡 Địa điểm: Hội trường Hoàng Tụy, Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

🌏 Sự kiện bao gồm chuỗi 06 Bài giảng đại chúng sau:

📌 Bài giảng 1: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT VẮC XIN COVID: BỐI CẢNH VIỆT NAM – THẾ GIỚI TRONG SẢN XUẤT VẮC XIN VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý TIÊM VẮC XIN COVID–19 TẠI VIỆT NAM

TS.BS. Phạm Quang Thái – Phó Trưởng khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm – Viện Vệ sinh dịch tễ TW – VSDTTW – NIHE.

📌 Bài giảng 2: MỘT SỐ BÀI TOÁN HÌNH HỌC VÀ GIẢN ĐỒ CÂY TRONG VIRUS

PGS.TS. Nguyễn Thế Toàn – Trưởng Khoa Vật lý – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội.

📌 Bài giảng 3: TỪ KHẢO CỔ ĐẾN CÔNG NGHỆ THỰC TẾ ẢO: TRƯỜNG HỢP CHÙA MỘT CỘT THỜI LÝ NĂM 1105

PGS.TS. Trần Trọng Dương – Trưởng phòng nghiên cứu Minh Văn – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Giảng viên sau ĐH của GASS, Leader của SEN Heritage.

📌 Bài giảng 4: GIẢI MÃ GEN VIỆT TRONG KỶ NGUYÊN KHOA HỌC DỮ LIỆU VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

TS. Võ Sỹ Nam – Trưởng phòng Tin Y sinh ứng dụng, Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn (VinBigdata).

📌 Bài giảng 5: LINKED DATA CHO DỮ LIỆU MỞ TRONG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh – Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học – HTX Nông nghiệp Số.

📌 Bài giảng 6: THỐNG KÊ – CHIẾC CẦU KẾT NỐI TOÁN HỌC VỚI CÁC KHOA HỌC THỰC NGHIỆM

PGS.TS. Hồ Đăng Phúc – Nguyên Trưởng phòng Xác suất thống kê – Viện Toán học.

👉 Các bạn vui lòng đăng ký tham dự sự kiện trực tuyến theo đường Link: https://forms.office.com/r/k4eFkYqcvN. (Thời hạn đăng ký: trước 12h00 ngày 11/06/2021). Ngoài ra, các bạn có thể đặt câu hỏi cho Diễn giả trong đơn đăng ký, Ban tổ chức sẽ tổng hợp và ưu tiên giải đáp tại sự kiện.

Ngày 5/5/2021, sau 02 tháng khởi động, Chương trình Tài trợ Dự án Khoa học – Công nghệ do Quỹ Đổi mới Sáng tạo VINIF (Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata) tổ chức đã thu hút tổng cộng 211 hồ sơ đăng ký xét chọn. Đây là số lượng hồ sơ cao nhất trong 03 năm kể từ khi chương trình chính thức được triển khai.

Trong vòng 02 tháng nhận hồ sơ đề xuất, kể từ ngày 02/03/2021, Quỹ Đổi mới Sáng tạo VINIF đã thu hút hơn 200 hồ sơ là những dự án khoa học – công nghệ chất lượng cao thuộc 17 lĩnh vực, đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học (tổ chức chủ trì) và các nhà khoa học Việt Nam xuất sắc. Đây đều là những dự án nghiên cứu khoa học mũi nhọn hoặc có định hướng ứng dụng, có phương pháp tiếp cận và công nghệ hiện đại, cũng như mang tầm ảnh hưởng quốc tế. 

So với 02 mùa trước đó của chương trình, năm 2021 đánh dấu số lượng hồ sơ đề xuất cao nhất mà VINIF nhận được. Cụ thể, trong hai năm đầu tiên triển khai (2019 và 2020), chương trình thu hút lần lượt 196 và 133 hồ sơ. Sự vượt bậc cả về số lượng hồ sơ và uy tín của các cơ quan chủ trì trong năm nay đòi hỏi quá trình xét duyệt đảm bảo tối đa tính công bằng và khoa học từ Hội đồng chuyên gia xét chọn.

Theo đó, sau khi kết thúc vòng 01 (vòng Hồ sơ đề xuất), từ tháng 5 – tháng 7/2021, Quỹ VINIF sẽ thực hiện xét chọn hồ sơ dự án thông qua các hội đồng Khoa học – Công nghệ trong và ngoài nước. Tiếp đến, các dự án nổi bật, có khả năng được nhận tài trợ sẽ tham gia phiên thuyết trình và thẩm định do VINIF tổ chức diễn ra từ ngày 01/08 – 15/08/2021. Kết quả tài trợ cuối cùng dự kiến sẽ được công bố trong tháng 08/2021. Ngay sau đó, từ tháng 09/2021, các dự án được nhận tài trợ có thể chính thức ký hợp đồng và bắt đầu triển khai.

Về cơ chế tài trợ, kinh phí hỗ trợ của Quỹ VINIF đối với các dự án Khoa học – Công nghệ là 2 tỷ đến 10 tỷ VNĐ. Cơ chế tài chính linh hoạt nhằm giúp các tổ chức, đơn vị, các nhà khoa học có thể chi trả lương của thành viên tham gia dự án, nguyên, nhiên, vật liệu, các vật tư, dụng cụ, thiết bị phục vụ nghiên cứu, cũng như chi phí quản lý liên quan trực tiếp đến nghiên cứu,… 

Ngoài ra, Quỹ VINIF sẽ hỗ trợ nguồn lực cho các dự án như giới thiệu chuyên gia tư vấn, cấp quyền truy cập cơ sở dữ liệu lớn và sở hữu trí tuệ từ hệ sinh thái nghiên cứu của Tập đoàn Vingroup. VINIF cũng tạo điều kiện giới thiệu, ứng dụng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp nghiên cứu vào thực tế, tư vấn đăng ký bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và giới thiệu nguồn đầu tư để các dự án tiếp tục hoàn thiện và phát triển sau khi dự án kết thúc… Mục tiêu sau cùng là đem lại sự hỗ trợ thiết thực, hữu ích và đắc lực nhất để các nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu, tạo ra các công trình tầm vóc quốc tế, các giải pháp công nghệ có ý nghĩa đối với cộng đồng.

Dự án đến từ Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội nhận tài trợ của Quỹ VINIF trong năm 2020.

Trong 02 năm triển khai trước đó, VINIF đã tài trợ tổng cộng 260 tỷ đồng cho 48 dự án Khoa học – công nghệ, thuộc nhiều lĩnh vực như Gen và tế bào; Khoa học máy tính; Trí tuệ nhân tạo; Tự động hóa; Năng lượng tái tạo; Vật liệu thế hệ mới…Trong số đó, nhiều dự án đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn của xã hội Việt Nam và thế giới, như: nghiên cứu vaccine và hệ thống cảnh báo chống Covid-19, phát triển công nghệ in 3D, phát minh vật liệu mới,…

Năm thứ ba triển khai, với số lượng và chất lượng vượt bậc của các dự án đăng ký xét chọn, Quỹ Đổi mới Sáng tạo VINIF kỳ vọng sẽ viết tiếp những thành công kể trên, nhằm góp phần thay đổi môi trường và tác phong nghiên cứu trong nước. Từ đó, VINIF cũng hướng tới xây dựng hệ sinh thái thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và gắn kết nhà nghiên cứu, viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp. Sau cùng, nhằm thực hiện sứ mệnh kiến tạo những thay đổi tích cực và bền vững cho Việt Nam.

Nội dung chi tiết về quá trình xét chọn, cơ chế tài chính hay vấn đề sở hữu trí tuệ được cập nhật trên website chính thức của Quỹ VINIF. Cộng đồng quan tâm có thể theo dõi tại đây.

Quỹ Đổi mới sáng tạo VINIF (Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata) được tập đoàn Vingroup thành lập với chức năng hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm tạo ra những thay đổi tích cực và bền vững cho Việt Nam. Năm 2021, VINIF tiếp tục tổ chức 05 chương trình tài trợ thường niên, bao gồm: Tài trợ dự án khoa học công nghệ, Học bổng Thạc sĩ, tiến sĩ trong nước, Hợp tác tài trợ đào tạo thạc sĩ, Tổ chức và tài trợ hội nghị, hội thảo, Tổ chức các Khóa học ngắn hạn và Giáo sư thỉnh giảng. Bên cạnh đó, 02 chương trình mới được VINIF đưa vào thực hiện là Học bổng sau tiến sĩ trong nước và Lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử. Chi tiết xem thêm tại đây.

LTS: Ngày 17.3.2021 vừa qua, Viện Hàn lâm Khoa học và Văn chương Na Uy đã quyết định trao giải thưởng Abel (được ví như giải Nobel của Toán học) cho hai nhà toán học Avi Wigderson và László Lovász vì những đóng góp của họ trong Khoa học máy tính – Toán rời rạc và vai trò dẫn dắt của họ trong việc đưa các chuyên ngành này vào trung tâm của toán học hiện đại. Nhân sự kiện trên, PGS. Phan Thị Hà Dương (phòng Cơ sở Toán học của Tin học – Viện Toán học và Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF) đã kể câu chuyện về Các khối đa diện đều và các khám phá mang lại những ứng dụng sâu rộng trong cuộc sống – trong đó nhiều khám phá đạt được nhờ có toán rời rạc hoặc sức mạnh của tin học. LĐCT xin giới thiệu cùng bạn đọc.

1. Con người tự cổ xưa cho đến ngày nay luôn khao khát kiến thiết nên những công trình hài hòa và bền vững. Để làm được điều đó, họ đã nghiên cứu, phân tích những cấu trúc những khối hình cân đối nhất. Lạ kỳ thay, những công trình kiến trúc vĩ đại lại có cùng cấu trúc với những tạo vật vô cùng nhỏ bé của thiên nhiên, như mái vòm hùng vĩ La Géode tại Trung tâm Khoa học và Công nghệ Pháp có cùng cầu trúc với những con virus cúm nhỏ tinh vi. Nhưng thực ra điều lạ kỳ ấy có lẽ lại là một điều hiển nhiên vì cả hai được xây dựng từ một hình khối đều đặn nhất, khối đa diện đều 20 mặt. Vì sao lại là 20 mặt mà không nhiều hơn? Ta đã biết trên mặt phẳng có vô vàn đa giác đều, bao nhiêu cạnh cũng được. Vậy trong không gian có bao nhiêu khối đa diện đều – những hình khối mà các đỉnh, các cạnh và các mặt bằng nhau, đều đặn như con xúc xắc ta chơi trên bàn cờ? Nó đã được khám phá từ bao giờ?

Tòa nhà The Montreal Biosphere (Quebec, Canada) – do nhà khoa học, Buckminster Fuller, thiết kế năm 1967, gồm hàng trăm nghìn mảnh tam giác nhỏ (Ảnh tư liệu)

Vào thời Hy Lạp cổ đại, những nhà Toán học cũng thường là những nhà triết học, thiên văn học và thậm chí cả chiêm tinh học nữa. Họ sẽ là những người ngắm những vì sao trên trời và vẽ nên những quỹ đạo, họ sẽ đo đạc các mảnh đất và tạo nên những hình vẽ và các con số, và họ sẽ thổi vào tất cả những ý nghĩa triết học sâu xa.

Platon (428/427 hay 424/423 – 348/347 TCN) đã là một người như thế. Ngày nay những khối đa diện đều, những tạo vật đẹp đẹp hài hòa nhất của không gian được mang tên ông vì ông đã mang đến cho chúng ý nghĩa triết học. Mặc dù rằng trước Platon, hơn 2000 năm TCN người cổ đại đã tạo ra những hình khối này mà dấu vết còn lưu lại trong các bào tảng. Bất ngờ thay, chỉ có 5 khối thôi, là những khối: 4 mặt, 6 mặt, 8 mặt, 12 mặt và 20 mặt. Platon đã gán chúng với 4 nguyên tố chính ngày ấy: Trái đất với hình lập phương, lửa với hình tứ diện, nước với hình nhị thập diện và không khí với hình bát diện. Còn lại hình 12 mặt, với dáng vẻ hài hòa đều đặn của nó, ông gán với vũ trụ, và ông viết: “Thượng đế đã dùng nó để thêu các vì sao lên bầu trời”.

Vào thời kỳ ấy khi các nhà toán học khám phá hình học (sau khi đã tìm hiểu về những con số) họ đã tin rằng hình học có sức mạnh vô song, đến nỗi Platon đã cho khắc trên cánh cổng trường học của mình: “Ai không hiểu về hình học thì không được bước chân vào đây”. Những người bước qua cánh cửa ấy đã được học trong những trường học Athens nơi tư duy được rộng mở, nơi những tranh luận đã làm khởi phát nhiều lý thuyết.

Hình của Euler và khối nhị thập diện đều được in trên con tem của Đức (Ảnh tư liệu).

Cứ như vậy bao nhiêu thế kỷ trôi qua, các nhà khoa học vẫn luôn không ngừng suy ngẫm và khám phá nhiều điều trong cuộc sống từ những khối đa diện. Léonard de Vinci cũng đã viết nhiều cuốn sách về chúng. Nhưng có lẽ một trong những công trình đang kể nhất là cuốn Mysterium Cosmographicum – cuốn sách về Thiên văn của nhà thiên văn học vĩ đại Johannes Kepler (1571-1630). Ông đã là người phát triển lý thuyết của Copernic, người đã chỉ ra rằng không phải Trái đất là trung tâm và mặt trời cùng các vì sao quay quanh nó, mà chính là trái đất quay quanh mặt trời kia. Kepler đã xây dựng một mô hình vũ trụ xen kẽ 5 khối đa diện và 6 hình cầu, 6 hình cầu ấy được ông gắn với 6 vì tinh tú được biết đến lúc ấy là Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ; và ông đã có những giả thuyết về tỉ lệ của các vì sao và tỉ lệ của các khối cầu.

Dẫu cho những tính toán này của Kepler không chính xác nhưng cuốn sách của ông đã có rất nhiều khám phá khác và đặt một dấu ấn trong lịch sử thiên văn học.

2. Nhưng có lẽ ta sẽ quay về một chút với câu hỏi, vì sao 5 khối mà không nhiều hơn, hay vô hạn? Một chứng minh rất đẹp dựa trên công thức nổi tiếng của Leonhard Euler (1707 – 1783). Công thức ấy là V-E+F=2 trong đó V, E, F lần lượt là số đỉnh, số cạnh và số mặt của khối đa diện. Công trình này đã nổi tiếng đến mức nó cùng với hình của Euler và khối nhị thập diện đều đã được in trên con tem của Đức.

PGS. Phan Thị Hà Dương với bài giảng đại chúng về các khối đa diện gây ấn tượng ở sự kiện hưởng ứng Ngày Toán học thế giới tại Hà Nội. Ảnh NVCC

Với những người làm tin học thì Euler nổi tiếng nhất lại vì ông chính là ông tổ của lý thuyết đồ thị. Đồ thị, đó có lẽ đã là một khái niệm ăn sâu vào muôn mặt cuộc sống trong thời đại bùng nổ kỹ thuật số hiện nay – như mạng xã hội, chữ mạng là network, chính nó đã mang nghĩa đồ thị. Lý thuyết đồ thị đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ trong TK 20 và chắc chắn sẽ bùng nổ trong TK 21, nhưng cội nguồn sâu xa của nó chính là bài toán 7 cây cầu ở Konigsberg của Euler. Ông đã đặt viên gạch đầu tiên cho lý thuyết đồ thị bằng cách định nghĩa chu trình Euler. Bài toán Euler cũng luôn được gắn chặt như một hình ảnh đối ngẫu với bài toán chu trình Hamilton – khái niệm được nhà toán học William Rowan Hamilton (1805 -1865) đặt ra dựa trên khối đa diện đều 12 mặt và 20 mặt. Hai bài toán này trở thành một phần cơ bản của lý thuyết Tin học, là ví dụ điển hình cho khái niệm cốt lõi nhất: Vấn đề P và NP – một vấn đề mà bất cứ người làm tin học nào cũng trăn trở và muốn khám phá.

Cùng với các vấn đề lý thuyết, có thể kể đến ứng dụng nổi trội của các khối đa diện trong kiến trúc, đặc biệt thông qua nhà thiết kế, sáng chế vĩ đại người Mỹ Buckminster Fuller. Khi ngắm mái vòm The Montreal Biosphere (Quebec, Canada) do Fuller thiết kế năm 1967, chúng ta khó có thể biết được mối liên hệ giữa nó và các khối đa diện đều, vì 5 khối chỉ có nhiều nhất là 20 mặt còn tòa nhà này gồm hàng trăm nghìn mảnh tam giác nhỏ. Nhưng không, chúng có một mối liên hệ mật thiết, và chính Fuller đã xây dựng nên lý thuyết kiến trúc để xây nên những mái vòm như vậy. Thật kỳ lạ sao, trước Fuller 7 thế kỷ, Đài quan sát Maragheh Observatory – Iran đã được thiết kế với cùng cấu trúc ấy. Và rồi, chúng ta còn thấy nó hiện diện ở khắp nơi, mà đẹp và nổi tiếng là tòa La Géode, ở Trung tâm Khoa học và Công nghệ Paris.

Trước Fuller 7 thế kỷ, Đài quan sát Maragheh Observatory – Iran đã được thiết kế với cùng cấu trúc ấy (Ảnh tư liệu)

Nếu ta nhìn thật kỹ Đài quan sát Iran, ta sẽ thấy nó không hoàn toàn đều đặn, có những điểm kỳ dị trên đó. Dường như tất cả các đỉnh của nó đều là đỉnh của 6 tam giác. Nhìn thật kỹ, bạn sẽ thấy có 1 đỉnh bên phải thật đặc biệt, nó là đỉnh của 5 tam giác. Đó có phải là lỗi xây dựng không? Và có bao nhiêu lỗi như thế?

Cách xây dựng các khối cầu từ khối Nhị thập diện đều. Ảnh tư liệu
Khối đa diện đều (Ảnh tư liệu).

3. Fuller đã chỉ ra rằng đó chính là thiết kế, tất cả các công trình kể trên, dù to dù nhỏ, đều có đúng 12 điểm kỳ dị (nếu nó là mặt cầu hoàn chỉnh) vì tất cả đều được xây dựng từ khối nhị thập diện đều 20 mặt. Thật vậy, khi muốn dựng những hình cầu này, các KTS đã bắt đầu từ một hình đa diện gần giống hình cầu nhất, đó là hình nhị thập diện gồm 20 tam giác. Nhưng rõ ràng nó chưa phải hình cầu. Vậy thì ta sẽ chia nhỏ các cạnh ra. Nếu ta chia mỗi cạnh làm đôi thì mỗi tam giác sẽ có 4 tam giác nhỏ, và tưởng tượng ta thổi phồng từ trong ra thì sẽ có hình 80 mặt tam giác nhỏ, nó gần giống hình cầu hơn hình 20 mặt. Cứ như thế, người ta có thể chia 3, chia 4, chia 5… mỗi cạnh, càng chia nhỏ thì hình nhận được càng giống hình cầu. Nhận thấy là tất cả những điểm mới khi ta chia đều dính dưới 6 tam giác. Nhưng vẫn luôn còn đó 12 đỉnh đầu tiên chỉ đỉnh với 5 tam giác. Như vậy dù hình cầu ta to nhỏ cỡ nào, dù có trăm, nghìn, triệu đỉnh thì luôn có đúng 12 đỉnh kỳ dị.

Liệu rằng thiết kế đó có phải là đẹp nhất không? Có nhiều khi chúng ta tự hỏi những tác phẩm của ta có phải là điều đẹp nhất, hợp lý nhất? Tìm đâu ra câu trả lời? Có lẽ khi ấy ta hãy soi mình vào tự nhiên, bởi tự nhiên chính là tác phẩm của Thượng đế, và Thượng đế luôn tài hoa hơn con người. Vậy thì một sản phẩm của Thượng đế, dẫu đáng buồn nhưng ta phải chấp nhận, chính là virus adenovirus, nó cũng mang hình dáng được tạo ra từ khối nhị thập diện đều và nó cũng có 12 điểm kỳ dị. Bởi vì virus cũng cần phải có cấu trúc thật giản đơn, tiết kiệm năng lượng nhất và tồn tại bền vững. Và không chỉ nó, ngành vệ sinh dịch tễ đã xác nhận rất nhiều loài virus mang cấu trúc này. Chính những hiểu biết về khối đa diện đều đã giúp các nhà khoa học tìm hiểu cấu trúc của chúng.

Vậy đấy, các khối đa diện đã được nghiên cứu và đưa vào ứng dụng sâu rộng, tưởng rằng sẽ không còn làm ta ngạc nhiên nữa. Thế nhưng, mới đây nhất, năm 2019 và 2020, các công trình dài hơn 50 trang của các nhà khoa học Jayadev S. Athreya, David Aulicino, W. Patrick Hooper và Anja Randecker đã gây bất ngờ khi chứng minh rằng khối thập nhị diện khác với 4 khối còn lại như vũ trụ khác với 4 nguyên tố kia. Đó là kết quả về chu trình trắc địa, là một đường đi từ một đỉnh rồi quay về chính nó mà trên mỗi mặt nó là đoạn thẳng và khi đi từ mặt này qua mặt kia thì nó tạo các góc bằng nhau (tưởng tượng ta trải phẳng hai mặt ra, thì nó là đường thẳng). Đường trắc địa là một khái niệm quan trọng trong toán học, nó có nguồn gốc sâu xa từ việc đo đạc các đường đi ngắn nhất. Trước đó, các nhà bác học đã chứng minh rằng không có chu trình trắc địa cho 4 khối: 4, 6, 8, 20 mặt. Công trình năm 2020 nói trên đã có đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu các đường trắc địa trên các khối đa diện đều nói riêng và nhiều hình khối nói chung, kết quả nổi trội của họ là đã chỉ ra rằng riêng với khối thập nhị diện tồn tại vô số chu trình trắc địa. Đây là một công trình kết hợp giữa các nghiên cứu toán học của mấy chục năm qua và sử dụng sức mạnh vượt trội của các thuật toán tin học hiện đại. Nhà toán học Anton Zorich – Viện toán học Jussieu Paris nhận định: “Hai mươi năm trước, câu trả lời này hoàn toàn nằm ngoài tầm với; 10 năm trước cần một nỗ lực phi thường để viết hết những phần mềm cần thiết, chỉ tới bây giờ là thời điểm có thể đưa ra lời giải đáp”.

Vậy là suốt 26 thế kỷ qua từ những triết lý và toán của Platon đến nay, các khối đa diện vẫn không ngừng mang đến những khám phá cho các nhà khoa học, để từ đó ứng dụng vào bao điều trong cuộc sống. Dẫu cho ta nghĩ rằng dáng hình vũ trụ có thể không phải là khối thập nhị diện đều như Platon đã hình dung, và nhiều lý thuyết của Platon, như khái niệm về Tình yêu thuần khiết (mà ngày nay ta gọi là tình yêu kiểu Platon) có thể bị cho là những điều mơ mộng và không thực tế; nhưng chính những điều mơ mộng ấy lại ẩn chứa bao bí mật và khơi nguồn bao sáng tạo.

(*) Bài viết sử dụng hơn 25 tài liệu tham khảo.

Trích bài giảng đại chúng về “khối đa diện…” của PGS Phan Thị Hà Dương ở sự kiện hưởng ứng Ngày Toán học thế giới tại Hà Nội.

Phan Thị Hà Dương

Theo Báo Lao động

Từ năm 2021, Quỹ Đổi mới sáng tạo VINIF, VinBigdata sẽ triển khai một Chương trình mới: TÀI TRỢ CÁC DỰ ÁN VÀ HỘI THẢO VỀ VĂN HÓA LỊCH SỬ.

Để có thể chuẩn bị cho Chương trình, Quỹ VinIF đã mời một số nhà khoa học, nhà văn hóa, nghệ sỹ tham gia buổi Hội thảo vào chiều tối ngày 6/1/2021, và hai câu hỏi: Làm thế nào để bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử và Phát huy văn hóa đọc đã được thảo luận rất sôi nổi.

Mở đầu, anh Nguyễn Nhật Anh, Giám đốc Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, nêu lên những băn khoăn về việc gìn giữ các bản sắc dân tộc như việc làm thế nào để có thể in sách trên giấy dó, để những trang giấy truyền thống ấy không chỉ bó hẹp trong những làng nghề với các hình vẽ giản đơn mà được dùng để in những cuốn sách có giá trị. Anh cũng đề xuất nên có những hình thức đọc sách sinh động để thu hút các em nhỏ, không chỉ ở giọng đọc truyền cảm mà cả ở những lời reo của gió, hay tiếng líu lo chim hót.

Anh Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch Hội đồng Công ty Sách Alpha Books, nêu một danh sách các vấn đề đã được trăn trở từ lâu, trong đó có việc phát triển việc tìm hiểu lịch sử qua các chương trình du lịch có nội dung trọng tâm, theo những tuyến đường gắn với văn hóa, lịch sử. Anh cũng nhắc đến một số dự án ấp ủ về việc thành lập một câu lạc bộ của một số nhà khoa học văn nghệ sỹ hoạt động thường xuyên để cùng bàn về một số chủ đề trọng tâm.

Chị Nguyễn Thị Quý Phương (Vin Future), nêu lên ý nghĩa của giải thưởng và trách nhiệm đóng góp cho khoa học và xã hội của doanh nghiệp khi đã nhận được những thành quả KHCN từ các nhà khoa học.

GS. Hà Huy Khoái, trường ĐH Thăng Long, chia sẻ về việc một số nước trên thế giới đã có nhiều sách về lịch sử khoa học trong khi Việt Nam chưa thực sự có. Nghiên cứu lịch sử khoa học không chỉ dựa trên sách cổ mà còn có thể cả trên các di vật cổ, các công trình kiến trúc hoặc các vật dụng của cuộc sống ngày xưa.

KTS Hoàng Thúc Hào nhấn mạnh việc cần phát huy Kho thông thái bản địa vô tận. Anh chia sẻ những trăn trở của nhà văn Nguyên Ngọc về việc khai thác nguồn văn hóa của núi rừng Tây Nguyên, anh cũng mong muốn tận dụng được những chất liệu truyền thống như Giấy dó, sơn mài, kết cấu tre, gỗ, nhà sàn, nhà Rông… để tạo nên những công trình có tầm vóc. Và bài học mà anh ví dụ là trường Bauhaus đã làm đổi đời thợ thủ công Đức nhờ những thiết kế mẫu mã mới qua việc bảo tồn và phát huy kho thông thái bản địa.

Anh Trần Trọng Dương đến từ Viện Hán nôm, đề cập đến việc Việt Nam chưa có được một thư viện sách online. Anh nêu hai ví dụ về thư viện khổng lồ các sách lịch sử của Trung Quốc và của Pháp tuy cách thực hiện khác nhau (lưu trữ dạng text và lưu trữ dạng văn bản), mà nhờ có đó những người làm nghiên cứu có thể tra cứu dễ dàng. Anh chia sẻ về các dự án xây dựng lại các công trình kiến trúc cổ trong không gian 3D để mọi người có thể có cảm nhận trực quan và hấp dẫn hơn. Anh cũng giới thiệu những công trình của một số nhà khoa học Nhật Bản và Mỹ có thể rà soát các lỗi trong cuốn “Nguyễn Trãi quốc âm từ điển” do anh soạn mặc dù họ không cần biết chữ Hán.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên lại cho rằng nếu cứ số hóa hết sách thì sẽ mai một đi mất thú vui cầm cuốn sách giấy đọc. Ông cũng đề xuất nên có những giải thưởng có ý nghĩa cho văn hóa, lịch sử.

Tiếp theo những ý kiến đó nhà thơ Vũ Quần Phương đã kể những câu chuyện rất dí dỏm về giải thưởng nhà nước, về thơ, những phân tích về thơ của ông bất ngờ và trẻ trung đến ngỡ ngàng, đối lập với những chia sẻ đượm buồn của Đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp. Chị Điệp nói một thư viện sách để mọi người đọc như ngày xưa là điều quá mơ mộng. Chị Điệp cũng chia sẻ những kinh nghiệm mới cần phải truyền cảm hứng đọc sách bằng cả những phương pháp khác như những buổi nói chuyện, những thẻ thơ, những đêm giao lưu…

Anh Đỗ Hoàng Sơn, Giám đốc công ty Long Minh kể về sự ra đời của Chương trình STEM và những kết quả sâu rộng ở khắp các tỉnh thành cả nước. Anh Giáp Văn Dương cũng chia sẻ về chuỗi Hội thảo hè tại TT hội thảo Quy Nhơn của anh đã trải qua 8 mùa và những dự định tiếp theo.

Chia sẻ cuối cùng của nhà văn Nguyễn Trương Quý – người viết bao nhiêu cuốn sách về Hà nội và vẫn luôn cảm thấy tôi là ai và tôi đang ở đâu – về những hội sách tha thẩn người đi không chủ đích, anh mong muốn có những hội sách như hội sách Frankfurt những triển lãm sách theo chủ đề để người đến thực là người muốn tìm hiểu và là người đọc.

Lắng nghe và ghi nhận các gợi ý, đề xuất của các diễn giả, GS. Vũ Hà Văn và chị Phan Thị Hà Dương chia sẻ về quá trình lên kế hoạch và mong muốn khi thực hiện Chương trình tài trợ về văn hóa lịch sử, về sự giống nhau và khác nhau so với các Chương trình về khoa học công nghệ; và bày tỏ hy vọng sẽ sớm triển khai được ngay trong năm nay một số dự án đáng ưu tiên nhất.

Hôm qua (12/10/2020), Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF), thuộc Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata, Tập đoàn Vingroup tổ chức “Lễ ký kết tài trợ dự án Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ năm 2020 cho 28 dự án với tổng giá trị hơn 136 tỷ đồng.

VINIF tài trợ phi lợi nhuận cho các dự án với mong muốn xây dựng văn hóa, tác phong nghiên cứu hiệu quả và chuyên nghiệp, thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học – công nghệ Việt Nam.

28 dự án nhận tài trợ năm nay thuộc nhiều lĩnh vực như Gen và tế bào; Khoa học máy tính; Trí tuệ nhân tạo; Tự động hóa; Năng lượng tái tạo; Vật liệu thế hệ mới… được lựa chọn từ 139 hồ sơ gửi về trong năm 2020. Với suất tài trợ cao nhất lên tới 10 tỷ đồng, giải ngân ngay trong tháng 10, các nhà nghiên cứu sẽ có nguồn lực kịp thời để chi trả cho thành viên dự án, thuê chuyên gia trong và ngoài nước, mua nguyên nhiên vật liệu, trang thiết bị, thực hiện công bố quốc tế và đăng ký sáng chế…

Ngoài ra, Quỹ đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) sẽ hỗ trợ nguồn lực cho các dự án như giới thiệu chuyên gia tư vấn, cấp quyền truy cập cơ sở dữ liệu lớn và sở hữu trí tuệ từ hệ sinh thái nghiên cứu của Tập đoàn Vingroup. VINIF cũng tạo điều kiện giới thiệu, ứng dụng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp nghiên cứu vào thực tế, tư vấn đăng ký bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và giới thiệu nguồn đầu tư để các dự án tiếp tục hoàn thiện và phát triển sau khi dự án kết thúc… Đây được xem là bước đột phá trong tư duy tài trợ dự án của Tập đoàn Vingroup, qua đó thúc đẩy một cách bền vững sự phát triển của nền khoa học – công nghệ Việt Nam.

PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương – Giám đốc điều hành Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup ký kết tài trợ cho các dự án nghiên cứu khoa học.

Để được lựa chọn, những dự án nhận tài trợ đã trải qua 3 vòng đánh giá, xét chọn nghiêm ngặt và công bằng của Hội đồng Khoa học cùng sự tư vấn của hơn 50 giáo sư, tiến sĩ như: GS Đặng Đức Anh (Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ TW), GS. Hồ Tú Bảo (Viện NCCC về Toán), GS. Phan Thanh Sơn Nam (GS hóa học ĐHQG TP HCM), GS. Nông Văn Hải (Viện HL KHCN VN), GS. Đàm Thanh Sơn (ĐH Chicago), GS. Nguyễn Thái Thục Quyên (ĐH California), GS. Đỗ Ngọc Minh (VinUni)… Việc đánh giá cũng dựa trên 5 bộ tiêu chí gồm Mức độ cần thiết của đề tài; Năng lực nghiên cứu của tác giả, cơ sở vật chất của đơn vị thực hiện; Tính sáng tạo, ý nghĩa khoa học; Tác động tới kinh tế – xã hội; Tính thuyết phục của mục tiêu cũng như giá trị khoa học – công nghệ của sản phẩm, dịch vụ. Những dự án được lựa chọn có tính ứng dụng thực tiễn cao, có thể mang lại giá trị lâu dài cho xã hội.

GS. Vũ Hà Văn phát biểu tại lễ ký kết

Phát biểu tại lễ ký kết, GS. Vũ Hà Văn, Giám đốc Khoa học, Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata (Tập đoàn Vingroup) chia sẻ: “Mặc dù gặp khó khăn chung do dịch Covid -19 nhưng Tập đoàn Vingroup vẫn quyết tâm duy trì hỗ trợ khoa học vô điều kiện. VINIF luôn mong muốn các nhà khoa học Việt có cơ hội tốt nhất để chuyên tâm nghiên cứu bài bản, chuyên nghiệp, hiệu quả, từ đó tạo ra sự khác biệt, đổi mới cho môi trường nghiên cứu khoa học tại Việt Nam”.

Đây là năm thứ hai Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup thực hiện chương trình tài trợ dự án nghiên cứu thường niên cho các công trình khoa học tại Việt Nam. Năm 2019, 20 dự án khoa học công nghệ đã nhận tổng mức tài trợ 124 tỷ đồng. Qua một năm thực hiện, các dự án đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần từng bước giải quyết những vấn đề thực tiễn của xã hội Việt Nam cũng như thế giới, như: nghiên cứu vaccine và hệ thống cảnh báo chống Covid-19, phát triển công nghệ in 3D, phát minh vật liệu mới…

Tài trợ các dự án nghiên cứu thường niên là một trong những hoạt động nhằm xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu ứng dụng khoa học trong và ngoài nước của Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup trong nỗ lực góp phần tạo nên thay đổi tích cực cho nền khoa học công nghệ Việt Nam. Bên cạnh chương trình tài trợ dự án nghiên cứu tiềm năng, VINIF nỗ lực thực hiện trao học bổng cho sinh viên tài năng, kí kết hợp tác với đơn vị nghiên cứu, trường Đại học để xây dựng chương trình đào tạo khuyến khích khoa học. Tháng 11 tới đây, Quỹ cũng sẽ tổ chức lễ trao học bổng thường niên đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong nước dành cho học viên cao học, nghiên cứu sinh thuộc chuyên ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật hoặc y dược với trị giá học bổng từ 120 triệu đến 150 triệu/học viên/năm.

Theo Dân Trí

Là một quỹ tư nhân mới ra đời, Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) đã mạnh dạn đặt mục tiêu tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu và đào tạo với cam kết tài trợ lâu dài và đủ mạnh, thậm chí chấp nhận rủi ro. Để làm được điều đó, VINIF cần tới một cơ chế vừa đủ chặt chẽ vừa linh hoạt cho phép Quỹ liên tục cập nhật để “chọn mặt gửi vàng” vào những nhóm nghiên cứu thực sự có tiềm năng.

Các nhà nghiên cứu Vabiotech đang tiến hành lấy mẫu máu chuột để đánh giá kháng thể đáp ứng miễn dịch sau tiêm vaccine. Vabiotech là một trong những đơn vị đã nhận được tài trợ của VINIF cho nghiên cứu về vaccine phòng COVID-19. Ảnh: nhandan.

Ra mắt từ tháng 8/2018 và được cộng đồng khoa học công nghệ rất quan tâm nhưng VINIF chỉ thực sự được đông đảo xã hội chú ý khi tài trợ khẩn cấp cho ba dự án về Covid vào tháng 3/2020 trong đó có một dự án đồng tài trợ cùng Bộ Khoa học và Công nghệ. Cú bắt tay giữa một đơn vị quản lý nhà nước về khoa học và một quỹ tư nhân để cùng tài trợ cho các nhóm nghiên cứu như vậy là điều hết sức mới mẻ của Việt Nam.

Đề cập đến đợt tài trợ đột xuất này, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương, Giám đốc điều hành VINIF, cho biết, sau khi trao đổi và được Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc hoan nghênh ý tưởng đồng tài trợ, chỉ trong vòng có mấy chục tiếng đồng hồ, một văn bản thỏa thuận với rất nhiều điều khoản mới như điều kiện hợp tác, quy trình rót một khoản kinh phí rất lớn (cả hai bên tài trợ 16 tỉ đồng), cách phối hợp đánh giá nghiệm thu đề tài… đã được hình thành. Vậy làm thế nào để một quỹ vừa mới thành lập hai năm đã có đủ kinh nghiệm để nhanh chóng tài trợ đột xuất, khẩn cấp theo cách này? “Bí quyết” để VINIF làm được việc này dựa vào hai từ “chặt chẽ và linh hoạt” trong cơ chế hoạt động, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương cho biết.

Quản lý chặt chẽ và linh hoạt

Sau hai năm hoạt động, VINIF đã tổ chức nhiều chương trình và hoạt động hỗ trợ, tài trợ cho viện nghiên cứu, trường đại học, nhóm nghiên cứu trẻ và các cá nhân, từ chương trình hỗ trợ nghiên cứu thường niên, học bổng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong nước cho đến cả các tài trợ nhỏ, ngắn hạn hơn như các hội thảo, tọa đàm và diễn đàn khoa học, cố vấn khoa học.

Để đảm bảo không hành chính hóa thủ tục và tài trợ một cách linh hoạt nhất cho các đề tài, VINIF không đưa ra một mốc thời gian cứng về tiến độ mà chỉ gợi ý chia ra làm ba giai đoạn, sau đó các chủ nhiệm đề tài tự xác định mỗi giai đoạn bao nhiêu tháng dựa trên đặc thù đề tài của mình.

Các khoản tài trợ cho các dự án và hoạt động nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đa dạng khác nhau như y dược học, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, robotics, tự động hóa, công nghệ nano, năng lượng tái tạo, nguyên liệu thế hệ mới… đều ở dạng “tài trợ mồi”, quy mô trung bình 5 tỉ và cao nhất có thể lên tới 10 tỉ/dự án.

Mục đích của VINIF, theo Giáo sư Vũ Hà Văn – Giám đốc Khoa học Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata là góp phần tạo điều kiện cho “các nhóm nghiên cứu có được một khoản tiền đủ lớn để nghiên cứu được các sản phẩm mang tầm quốc tế” và để sau đó có được nền móng tốt tiếp tục con đường nghiên cứu phía trước. Trên thực tế, mức tài trợ của VINIF cũng tương đương với mức tài trợ của Mỹ cho một công trình nghiên cứu khoảng ba năm.

Để chọn được những nhóm nghiên cứu thực sự mạnh, có tiềm năng thực hiện thành công những nhiệm vụ lớn như vậy, VINIF đòi hỏi một quá trình xét duyệt hồ sơ chặt chẽ, đặc biệt là hội đồng phản biện gần như phải “đo ni đóng giày” cho từng đề tài chứ không thành lập một hội đồng chung. “Quá trình tìm người phản biện rất công phu vì các hồ sơ đến từ rất nhiều ngành khác nhau mà không phải cứ người đúng chuyên ngành là đã có thể phản biện được. Hội đồng khoa học đóng vai trò tiên quyết cho sự thành công của việc chọn lựa đề tài nhằm đảm bảo tính khoa học, công bằng và minh bạch”, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương cho biết.

Về quy trình, Quỹ VINIF đang áp dụng việc thực hiện ba vòng phản biện cho tất cả các đề xuất tài trợ: Ở đợt phản biện đầu tiên, mỗi hồ sơ sẽ được ba nhà khoa học trong nước đọc; Vòng hai gồm 2 nhà khoa học, trong đó có nhà khoa học nước ngoài tiếp tục phản biện (ở vòng này các nhà khoa học sẽ đánh giá cả mức độ phù hợp trong đề xuất tài chính của dự án); Ở vòng cuối cùng, các chủ nhiệm dự án trực tiếp trình bày về dự án của mình trước một hội đồng 10 thành viên. Như vậy với 133 hồ sơ nộp vào năm 2020, qua ba vòng phản biện, đã có tới gần 500 lượt đọc và cần tới hơn 50 nhà khoa học tham gia các hội đồng để cuối cùng Quỹ đã chọn được 22 dự án khoa học công nghệ hướng ứng dụng (ngoài ra còn có 6 dự án công nghệ ứng dụng đã được xét duyệt trước đó).

Theo thông lệ phổ biến trong quản lý tài trợ khoa học, VINIF không rót kinh phí tài trợ một lần mà theo từng giai đoạn đăng ký của chủ nhiệm đề tài. Hết mỗi giai đoạn, các đề tài sẽ được hội đồng nghiệm thu tiến độ rồi mới nhận tiếp kinh phí của giai đoạn tiếp theo. Để đảm bảo không hành chính hóa thủ tục và tài trợ một cách linh hoạt nhất cho các đề tài, VINIF không đưa ra một mốc thời gian cứng về tiến độ mà chỉ gợi ý chia ra làm ba giai đoạn, sau đó các chủ nhiệm đề tài tự xác định mỗi giai đoạn bao nhiêu tháng dựa trên đặc thù đề tài của mình.

Từ hiện trạng thực tế mặt bằng công bố quốc tế ở Việt Nam đang tập trung vào số lượng nhiều hơn là hướng tới chất lượng ở các tạp chí top đầu, các nhà khoa học cũng khuyến nghị VINIF cần thảo luận xem có nên đặt ra tiêu chí về số lượng bài báo cần đạt hay không.

Nhờ linh hoạt trong những công việc quản lý thường xuyên như vậy nên VINIF ứng phó rất nhanh chóng với những trường hợp tài trợ đột xuất như các đề tài nghiên cứu về COVID-19 kể trên. Thay vì rót kinh phí cho các đề tài COVID-19 theo ba đợt với định mức 30%-30%-30% và cuối cùng là 10% khi nghiệm thu kết quả thì VINIF rót kinh phí cho các đề tài COVID-19 theo tỉ lệ 70%-30% để các nhóm nghiên cứu có ngay nguồn lực cho các nghiên cứu thực nghiệm.

Học hỏi và rút kinh nghiệm

Đánh giá chất lượng hồ sơ đầu vào và sản phẩm đầu ra là vấn đề quan trọng của các quỹ đầu tư cho khoa học. VINIF cũng không nằm ngoài phạm vi đó. Đây là lý do vì sao Quỹ dành nhiều thời gian và công sức vào mục tiêu xây dựng một danh mục tạp chí uy tín để phục vụ cho việc đánh giá hồ sơ và nghiệm thu tài trợ. Và cũng bởi có một thực tế khác là “các hội đồng không thể bao gồm hết các chuyên gia, các chuyên gia không đủ mạnh để đánh giá hết các đề tài”, theo nhận xét của giáo sư Ngô Việt Trung, Chủ tịch hội đồng ngành Toán Quỹ Phát triển khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED), nhận xét trong Hội thảo Nâng cao chất lượng công bố khoa học do VINIF tổ chức ngày 7/10 vừa qua.

Tuy nhiên để xây dựng được một danh mục tạp chí uy tín như mong muốn không đơn giản vì hiện nay có hiện tượng các tạp chí, kể cả thuộc Q1 nằm trong cơ sở dữ liệu của Web of Science – ISI hoặc Scimago có chất lượng rất chênh lệch. Do đó, chọn được một danh mục tạp chí phù hợp, nhận được sự chấp thuận của cộng đồng không chỉ là câu hỏi đặt ra đối với riêng VINIF mà là câu hỏi chung với bất kỳ một quỹ tài trợ nghiên cứu nào.

Trong phiên thảo luận, các chuyên gia đều thống nhất với mức hỗ trợ tài chính mà Quỹ VINIF đang hỗ trợ các dự án, việc thu hẹp danh mục tạp chí được nghiệm thu, đảm bảo chất lượng, uy tín là điều cần thiết phải thực hiện. Tuy nhiên, không nên chỉ dựa vào một danh sách tạp chí cố định, mà cần có một tiêu chí cụ thể và rõ ràng, kết hợp với đánh giá của Hội đồng xét duyệt, đặc biệt khi Quỹ VINIF đang tài trợ các dự án đa ngành, liên ngành, và cần sự đa dạng hoá.

Các nhà khoa học thuộc các hội đồng khoa học chuyên ngành đều tư vấn VINIF nên học theo kinh nghiệm xây dựng danh mục tạp chí của các quỹ đi trước, đã được thảo luận nhiều và đang được thống nhất sử dụng. “Nếu tự nhiên VINIF đưa ra danh mục riêng thì chắc khó đạt được sự đồng thuận trong cộng đồng khoa học”, theo PGS. TS Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam).

Lý do thứ hai để VINIF nên vận dụng danh mục của các quỹ đi trước vì quá trình rà soát các tạp chí từ đầu và xây dựng một danh sách riêng sẽ cần rất nhiều thời gian và nguồn lực con người, mà VINIF khó lòng đảm đương. Với kinh nghiệm cá nhân, giáo sư Ngô Việt Trung cho biết, các hội đồng khoa học cũng phải liên tục thảo luận và bàn bạc rất nhiều lần mới đưa ra được những tiêu chí về danh mục tạp chí uy tín để xét duyệt. Ví dụ, trong mười năm qua, hội đồng khoa học các nhiệm kỳ của Quỹ NAFOSTED (mỗi nhiệm kỳ 2 năm) cũng liên tục thảo luận để hoàn thiện, đưa ra các danh mục ngày càng phù hợp hơn. Qua gần 10 năm thì cách làm này cho thấy hiệu quả tốt.

Giáo sư Ngô Việt Trung cũng tư vấn, để xây dựng một danh mục chất lượng cao thì không nên để một nhóm nhà khoa học xây dựng, vì khi đó sẽ dẫn tới tình trạng bị tính chủ quan của từng người ảnh hưởng. VINIF nên dựa vào tiêu chí định lượng cứng: bắt đầu xuất phát từ cơ sở dữ liệu được cộng đồng thống nhất, ví dụ như danh mục Q1 của Web of Science hoặc Scimago, tiếp tục thu hẹp lại bằng việc chọn tốp đầu của Q1, sau đó cùng thảo luận với các chuyên gia uy tín của từng ngành để chốt danh mục.

Song song với đó, đặt mục tiêu nâng cao chất lượng công bố quốc tế ở Việt Nam, các nhà khoa học khuyến nghị VINIF cần thảo luận xem có đặt ra tiêu chí về số lượng bài báo cần đạt hay không? Nếu nhóm nghiên cứu phải chia ra đăng cho đủ số lượng thì chất lượng sẽ không bằng so với việc nhóm chuyên tâm, có thời gian dài hơi cho nghiên cứu và công bố, GS.TS Đặng Đức Anh, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương nêu.

Mục tiêu của Quỹ VINIF là thông qua việc tài trợ cho các dự án rất cụ thể để nhằm giới thiệu, hiện thực hóa một số mô hình phổ biến hữu dụng cho quá trình phát triển ở các nước, rất cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam nhưng người Việt đa phần chưa có những hình dung về các mô hình đó. Ví dụ như mô hình doanh nghiệp hỗ trợ nghiên cứu của các trường đại học đã rất phổ biến ở các nước phương Tây nhưng Việt Nam chưa có và cần phải được thúc đẩy. Một mô hình khác nữa là học tiến sĩ hoặc thạc sĩ toàn thời gian vẫn còn xa lạ ở Việt Nam thì các chương trình hỗ trợ học bổng, với số tiền vừa phải (khoảng hơn 10 triệu mỗi tháng) vừa đủ cho cuộc sống đơn giản của nghiên cứu sinh nhưng họ không phải lo về cuộc sống, mà dành thời gian để nghiên cứu. Đó là những mô hình nên trở nên phổ biến ở Việt Nam. Những gì chúng tôi làm chỉ có thể tác động một phần nhỏ cho cộng đồng những người làm nghiên cứu ở Việt Nam, nhưng nếu như nó tạo ra được cảm hứng, được nhiều người ủng hộ, nhiều người cùng làm, các doanh nghiệp khác cũng thúc đẩy thì có thể sẽ tạo ra thay đổi trong cả cộng đồng nghiên cứu và xã hội nói chung. GS. Vũ Hà Văn, Giám đốc Khoa học Viện Nghiên cứu dữ liệu lớn và Quỹ VINIF

Đặt thêm vấn đề về thời gian nghiệm thu, TS Nguyễn Việt Cường, Trường Đại học Kinh tế quốc dân nêu ra điểm chưa hợp lý trong nghiệm thu đề tài hiện nay “với quy định phải kiểm toán hằng năm, các chủ nhiệm đề tài nhà nước phải bằng mọi cách xuất bản trong thời hạn quy định (thường là 2 năm – PV), trong khi các tạp chí tốp đầu có thể mất tới hai năm mới đăng bài”. Do đó anh đề nghị VINIF có thể khắc phục điều đó bằng cách “linh hoạt hơn, không chỉ là hết dự án là nghiệm thu, mà hội đồng có thể đánh giá chất lượng và khả năng công bố trên các tạp chí top đầu tới đâu để gia hạn cho nhóm nghiên cứu”.

Theo Tia Sáng

Dự án vắc-xin “made in Vietnam” phòng virus SARS-CoV-2 được các nhà khoa học của công ty Vabiotech triển khai với sự tài trợ của Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF (thuộc Tập đoàn Vingroup) đang có triển vọng “về đích” sớm.

Vượt tiến độ 2 tháng

Một ngày giữa tháng 6, ThS.Mạc Văn Trọng – Công ty TNHH Vắc xin và sinh phẩm số 1 (Vabiotech), Bộ Y tế – nhận được tin từ TS. Đỗ Tuấn Đạt (Chủ tịch Vabiotech), cho hay, dự án nghiên cứu, sản xuất vắc xin phòng Covid-19 của ông và các đồng sự “đã có kết quả. Vắc-xin dự tuyển có tính sinh miễn dịch khá cao.”

Với ThS.Trọng và nhóm nghiên cứu của công ty Vabiotech, kết quả này có ý nghĩa “sống còn”. Dự án nghiên cứu, sản xuất vắc-xin phòng Covid-19 mà họ đang theo đuổi đang đi đúng hướng và đã cho kết quả bước đầu. “4 tháng quên ăn quên ngủ của chúng tôi đã được đền đáp”, nhà nghiên cứu của Vabiotech chia sẻ. 

ThS. Mạc Văn Trọng đang phân tích kết quả biểu hiện gen S của Covid-19 tại Phòng thí nghiệm Viện Sinh-Hóa, Trường Đại học Bristol (Anh)

Trước đó, ngày 15/5 và 29/5, 2 lô mẫu huyết thanh của 50 con chuột đã tiêm dự tuyển vắc-xin Covid-19 lần lượt được gửi sang Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VSDTTƯ) để đánh giá. Bằng việc tiêm so sánh với chính chủng virus hoang dại đã được bất hoạt cho chuột, Viện VSDTTƯ xác định các mẫu huyết thanh này đã cho đáp ứng kháng thể, trong đó có những mẫu đáp ứng khá cao.

“Đây là cơ sở để phát triển thành vắc-xin hoàn chỉnh”, PGS.TS. Nguyễn Lê Khánh Hằng 0 Phó trưởng khoa Virus, Viện VSDTTƯ, nhận định.

Với kết quả này, Vabiotech đã vượt tiến độ 2 tháng của giai đoạn 1 dự án, cũng là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu sản xuất vắc-xin Covid-19. Ở giai đoạn tiếp theo, vắc-xin dự tuyển sẽ được phát triển thành vắc-xin hoàn chỉnh, ổn định và đủ tiêu chuẩn để sử dụng cho người. Nhóm nghiên cứu cũng sẽ xây dựng quy trình sản xuất thương mại để có thể đáp ứng quy mô sản xuất lên tới hàng triệu, thậm chí là hàng chục triệu liều.

Các nhà nghiên cứu của Vabiotech đang tiến hành lấy mẫu máu chuột để đánh giá kháng thể đáp ứng miễn dịch sau tiêm.
PGS.TSKH. Vũ Hoàng Linh – Hiệu trưởng Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN và PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương – Giám đốc Điều hành VinIF ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo Thạc sĩ Ngành Khoa học Dữ liệu

Không sốt ruột trước thông tin nhiều nước đã bắt đầu thử nghiệm vắc-xin Covid-19 trên người nhưng các nhà khoa học của Việt Nam cũng đang thực sự chạy đua với thời gian, nhất là trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với nguy cơ của làn sóng Covid-19 thứ 2. Theo các nhà nghiên cứu, Việt Nam không đặt mục tiêu dẫn đầu nhưng sẽ đón đầu nhờ kế thừa được các kinh nghiệm của thế giới ứng phó với loại virus rất mới SARS-CoV-2.

“Để cho ra đời vắc-xin hoàn chỉnh cần 9 – 12 tháng nữa nhưng chúng tôi đang nỗ lực để rút ngắn thời gian này”, ThS.Trọng cho biết. “Dù vậy, so với mức trung bình 10 năm của một vắc-xin bình thường, thời gian 18 – 24 tháng để phát triển được một vắc-xin đã là một thành tựu rất đáng kể”.

Cũng theo đại diện Vabiotech, dự án lần này không chỉ dừng lại ở việc cho ra đời loại vắc-xin mà cả thế giới đang trông đợi, mục tiêu lớn hơn là giúp tăng tính chủ động về vắc-xin cho Việt Nam, nhất là các vắc-xin đại dịch. Nếu trong tương lai xuất hiện thêm chủng Corona virus mới gây đại dịch ở người, với công nghệ sẵn có trong tay, chỉ cần “lắp ráp” phần gen của chủng virus mới vào là sẽ cho ra đời loại vắc-xin mới rất nhanh .

“Khi một nước nào đó có vắc-xin thương mại họ sẽ ưu tiên bảo vệ người dân của họ trước. Như đợt đại dịch cúm A/H1N, mua 1 liều vắc-xin đã khó chưa nói gì đến mua cả triệu liều. Vì thế, tính chủ động vắc-xin của một quốc gia là rất quan trọng” – ThS. Mạc Văn Trọng lý giải. 

Hai nghiên cứu về SARS-CoV-2 do VinIF tài trợ đều có kết quả tốt

Sau chục năm tham gia và đứng chính nhiều công trình lớn nghiên cứu và sản xuất vắc-xin, với ThS. Mạc Văn Trọng, dự án lần này là đặc biệt nhất. Lý do không chỉ bởi bối cảnh “virus thế kỷ” đang nhấn chìm thế giới trong đại dịch mà còn bởi những sóng gió chưa từng có mà nhóm nghiên cứu đã trải qua.

Dự án khởi đầu rất thuận lợi do được tài trợ kinh phí diện “khẩn cấp” của Quỹ VinIF, nhằm ứng phó với một đại dịch toàn cầu. Nhiều công đoạn nghiên cứu của dự án đã được thực hiện tại Phòng thí nghiệm của Đại học Bristol (Anh) ngay từ đầu tháng 2/2020 nhằm đẩy nhanh tiến độ.

Tuy nhiên, dự án đã suýt đổ bể khi châu Âu bị phong tỏa, toàn bộ các hoạt động nghiên cứu phải tạm dừng. Do đã lường trước nguy cơ này nên nhóm nghiên cứu đã làm việc gần như 24/7, mỗi ngày chỉ ngủ vài tiếng, để kịp hoàn thành kế hoạch đặt ra. May mắn là các thành viên vừa rời đi thì nước Anh phong tỏa và về đến Việt Nam ngay sát thời điểm đóng cửa đường hàng không hồi cuối tháng 3.

“Chúng tôi đã chịu áp lực rất lớn. Lo ngại nhất khi đó là không chuyển được mẫu về Việt Nam, bởi nếu thế thì kết quả nghiên cứu gần 2 tháng trời sẽ đổ sông đổ biển”, ThS. Trọng nói về quãng thời gian khó khăn nhất.

Để bù tiến độ cho 14 ngày gián đoạn vì cách ly tập trung sau khi về nước, nhóm nghiên cứu tiếp tục làm việc với cường độ 1 ngày bằng 2 ngày. Phòng thí nghiệm của Vabiotech khi đó đã trở thành “phòng cách ly để nghiên cứu” của những nhà khoa học trở về từ Anh. Nhờ thế mà chỉ 1 tháng sau, dự tuyển vắc-xin đã được hoàn thành để tiêm thử nghiệm trên chuột.   

Công nghệ mà Vabiotech sử dụng trong sản xuất vắc-xin phòng chống dịch bệnh mà đến nay đã khiến gần 9 triệu người trên toàn thế giới nhiễm, gần 500.000 người tử vong, là công nghệ vector virus thay vì các công nghệ vắc xin bất hoạt hay sống giảm độc lực như truyền thống. Đây là công nghệ mới, đa năng, cho hiệu suất sản xuất cao, không phụ thuộc vào việc nuôi cấy toàn thể tác nhân gây bệnh, phù hợp đối với các vắc-xin đại dịch.  

“Nhờ nguồn kinh phí tài trợ, công ty đã nâng cấp được hệ thống nuôi cấy tế bào Bioreactor vốn đã được trang bị gần 10 năm trước. Model thế hệ mới này thích ứng hơn với công nghệ vector virus mà chúng tôi đang dùng” – TS. Đỗ Tuấn Đạt – Chủ tịch Vabiotech tiết lộ.

Cũng theo tác giả của nhiều nghiên cứu phát triển vắc-xin “made in Vietnam”, dự án của Vabiotech có thể tăng tốc còn do được “hưởng lợi” từ những kết quả của đề tài nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của virus SARS-CoV-2 mà Viện VSDTTƯ đang triển khai. Đây cũng là một dự án cấp bách do Quỹ VinIF tài trợ ngay khi Covid-19 mới bùng phát. Nhờ các thông tin “giải mã” này mà dù nhiều nước đã “việt vị” trong dự đoán về dịch bệnh nguy hiểm bậc nhất đầu thế kỷ XXI, Việt Nam vẫn có thể làm chủ tình hình.

“Việt Nam đã xuất sắc khi trở thành một điểm sáng của thế giới về phòng chống và kiểm soát dịch bệnh. Chúng tôi kỳ vọng vào những thắng lợi tiếp theo, trong đó có vắc-xin Covid-19 “made in Vietnam” – TS. Đỗ Tuấn Đạt đặt mục tiêu.

Minh Tuấn (VietNamNet – https://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/vac-xin-covid-19-made-in-vietnam-vuot-tien-do-du-kien-651931.html)

Ngày 18/7 Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF (thuộc Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VinBigdata) – Tập đoàn Vingroup đã ký kết Hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học dữ liệu với 5 trường đại học, viện nghiên cứu đầu ngành của Việt Nam.

Hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học dữ liệu được Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF ký kết với 5 đơn vị đào tạo gồm: Trường ĐH Quy Nhơn, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam, Viện John von Neumann – ĐH Quốc gia TP.HCM và Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia Hà Nội. Mục tiêu chương trình hướng tới xây dựng các chương trình đào thạc sĩ Khoa học dữ liệu, Toán ứng dụng kết hợp lý thuyết chuyên sâu và thực tiễn tiến tới đạt trình độ quốc tế.

Theo thoả thuận hợp tác được kí kết, Quỹ VinIF sẽ hỗ trợ về nguồn lực tài chính, công nghệ, mạng lưới tri thức và chuyên gia cho mỗi cơ sở đào tạo trong 3 năm đầu để tạo tiền đề phát triển. Các hoạt động hỗ trợ bao gồm: Mời giáo sư thỉnh giảng; Xây dựng, bổ sung giáo trình và bài giảng; Tạo cơ hội học tập và nghiên cứu với các nhà khoa học uy tín trên thế giới cho học viên; Nâng cao năng lực, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, Quỹ VinIF sẽ tài trợ 10 suất học bổng cho sinh viên xuất sắc tại mỗi đơn vị nhằm khuyến khích sự phát triển của các tài năng.

Giáo sư Vũ Hà Văn – Giám đốc Khoa học Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành khoa học dữ liệu.

GS.Vũ Hà Văn – Giám đốc Khoa học Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBDI cho biết: “Việt Nam đang thực sự thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực dữ liệu. Thông qua thỏa thuận Hợp tác đào tạo này, chúng tôi kỳ vọng sẽ đồng hành cùng các cơ sở đào tạo để khuyến khích các bạn trẻ có năng lực học tập và nghiên cứu khoa học dữ liệu – vốn là ngành không thể thiếu trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Phan Thị Hà Dương – Giám đốc điều hành Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup ký kết hợp tác đào tạo với đại diện trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Đại diện phía đơn vị đào tạo, PGS. TS. Hoàng Minh Sơn – Hiệu trưởng trường ĐH Bách Khoa Hà Nội chia sẻ: “Chúng tôi đặt sự kỳ vọng lớn vào hoạt động hợp tác với Tập đoàn Vingroup sẽ góp phần thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội trong lĩnh vực mũi nhọn hiện nay là khoa học công nghệ. Ngoài kinh phí tài trợ, sinh viên, học viên còn có cơ hội tiếp xúc với các chuyên gia đầu ngành của Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn thông qua các hoạt động: giảng dạy, hướng dẫn làm đề án hoặc luận văn”.

Khách mời tham dự Tọa đàm “Nhân lực chất lượng cao Khoa học dữ liệu: Thách thức và Cơ hội”.

Trong khuôn khổ chương trình, các bên đã cùng tổ chức Tọa đàm “Nhân lực chất lượng cao Khoa học dữ liệu: Thách thức và Cơ hội”. Người tham dự có cơ hội tiếp cận góc nhìn mới về khoa học dữ liệu và những thách thức căn bản của hoạt động đào tạo, phát triển nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này.

Sự kiện ký kết hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học dữ liệu với 5 trường đại học, viện nghiên cứu cho thấy nỗ lực của Tập đoàn Vingroup trong việc thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần đặt nền móng cho ngành khoa học, công nghệ Việt Nam tiệm cận thế giới.

Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF (thuộc Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VinBigdata) do tập đoàn Vingroup thành lập với vai trò hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm tạo ra những thay đổi tích cực và bền vững cho tương lai ngành khoa học công nghệ Việt Nam.
Quỹ VinIF triển khai 4 chương trình trọng tâm, gồm: Hỗ trợ các dự án nghiên cứu; Tài trợ học bổng sau đại học; Hợp tác đào tạo thạc sĩ và Hợp tác, Tài trợ hội nghị, hội thảo. Trước đó, trong năm 2019, Quỹ VinIF tài trợ 124 tỷ đồng cho 158 học viên cao học, nghiên cứu sinh và 20 dự án nghiên cứu khoa học công nghệ tại Việt Nam.

Minh Tuấn – VietNamNet