Đại diện tổ chức chủ trì và Chủ nhiệm dự án tại Lễ ký kết tài trợ dự án Văn hóa Lịch sử năm 2022

Được Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng cho phép thành lập vào năm 2001, trong thời gian qua, Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ nâng cao trình độ, kiến thức, kĩ năng và chất lượng cuộc sống cho người khiếm thị tỉnh Sóc Trăng. Một trong những chương trình ấy là hoạt động đào tạo âm nhạc cho hội viên.

Qua quá trình tìm hiểu, Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng nhận thấy rằng phần lớn người Khmer khiếm thị có một niềm đam mê mạnh mẽ đối với nhạc ngũ âm, một loại hình âm nhạc truyền thống của người dân tộc Khmer. Với mục tiêu góp phần vừa đào tạo nghề vừa nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho người khiếm thị là người dân tộc Khmer, giúp người khiếm thị Khmer tiếp cận, lưu giữ và lan tỏa những giá trị tốt đẹp của nhạc ngũ âm, Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng tập trung đào tạo nhạc ngũ âm cho các hội viên có đam mê loại hình âm nhạc này. Từ dàn nhạc ngũ âm do Quỹ Hỗ trợ Vùng và Dân tộc ít người (Đan Mạch) tài trợ vào năm 2005, Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng đã phối hợp cùng địa phương mở được 02 lớp dạy nhạc ngũ âm cho 16 người khiếm thị là người dân tộc Khmer. Các học viên sau khi được đào tạo đã có thể biểu diễn được một số bài nhạc ngũ âm truyền thống của người Khmer. Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng đã thành lập Đội đánh nhạc ngũ âm để duy trì hoạt động của các học viên được đào tạo nhạc ngũ âm, Đội nhạc ngũ âm của Hội từng được Đài Truyền hình VTV2 ghi phóng sự là đội nhạc ngũ âm của người khiếm thị duy nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, sau thời gian dài sử dụng, dàn nhạc ngũ âm hiện tại của Hội Người mù đã xuống cấp trầm trọng và không còn đảm bảo âm thanh như lúc ban đầu vì vậy ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đào tạo nhạc ngũ âm của Hội Người mù và nhu cầu học tập và biểu diễn nhạc ngũ âm của hội viên.

Dự án góp phần đảm bảo trang thiết bị, nhạc cụ để phục vụ cho các lớp đào tạo nhạc ngũ âm cho người khiếm thị của Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng cũng như tổ chức được các hoạt động văn hóa văn nghệ nâng cao đời sống tinh thần cho hội viên. Học viên cũng có thêm cơ hội tiếp cận, học và biểu diễn nhạc truyền thống của dân tộc mình, góp thêm phần bảo tồn và phát triển loại hình âm nhạc đặc sắc. Hơn thế nữa, thông qua dự án, cộng đồng cũng sẽ hiểu và đánh giá tốt hơn về ý chí và năng lực của người khiếm thị khi họ được trao cơ hội học tập và làm việc.


Người Khmer vốn có nền văn hoá đặc sắc, phong phú, đậm tính dân tộc. Một trong những tinh hoa của nền văn hóa ấy là nhạc ngũ âm – được coi như tiếng nói tâm hồn của người Khmer. Nhạc ngũ âm là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người Khmer, gắn bó với họ trong những niềm vui, nỗi buồn, từ lúc được sinh ra cho đến khi về với trời đất.

Dàn nhạc ngũ âm của người Khmer hay còn được gọi là dàn nhạc Pin Piết bao gồm những loại nhạc cụ được hình thành từ rất xa xưa, được chính các nghệ nhân Khmer thiết kế công phu và tinh xảo. Ngũ âm bởi âm thanh phát ra được kết hợp từ năm loại chất liệu: gỗ, đồng, sắt, da và hơi. Còn về mặt nhạc cụ, có 6 món chính: hai dàn cồng (cồng lớn và cồng nhỏ), Roniêt-ek (đàn thuyền), Rooniêt-thung, Rô-niêt-đek, trống samphô và kèn Srôlay pin piết.

Hai dàn cồng Cuông-tuôch và Cuông-thôm được làm bằng chất liệu đồng, mỗi cái gồm có 16 cái cồng nhỏ có núm, được kết lại với nhau tạo thành vòng có hình bán nguyệt. Khi diễn tấu, nhạc công sẽ ngồi trong vòng cong đó, dùng hai dùi để gõ. Tùy theo độ lớn, nhỏ, dày, mỏng của từng quả mà phát ra âm thanh khác nhau.

Chất liệu gỗ gồm các nhạc cụ là Rôniêt-ek gồm 26 thanh tre hoặc gỗ có hình chữ nhật dài khoảng 20cm, rộng khoảng 5cm được ghép với nhau thành một chuỗi dài, hai đầu được máng vào một thùng gỗ có một chân đỡ và nhạc cụ Rô-niêt-thung (có âm trầm) được cấu tạo từ 16 thanh gỗ và 4 giá đỡ.

Rô-niêt-đek (có âm bổng) được làm từ chất liệu sắt, gồm 26 thanh ghép lại.

Trống Samphô có hai mặt được bịt bằng da bò, mặt lớn có âm trầm, mặt nhỏ có âm bổng, được đặt trên một giá cao 30cm. Khi diễn tấu, nhạc công dùng hai tay vỗ vào mặt trống để tạo âm thanh. Hai trống lớn được bịt bằng da trâu và đặt cạnh nhau, một cái có âm trầm, một cái có âm bổng.

Kèn thổi hơi còn gọi là Srôlay pin piết (hoặc Srâylay rom) là loại kèn được làm bằng tre, ống kèn được làm bằng gỗ quý. Khi sử dụng, người ta đặt dàn kèn thẳng đứng, cắt ngang với lưỡi để tạo ra âm thanh.

Hình 1. Một dàn nhạc cụ ngũ âm của người Khmer

Trong các nhạc cụ của dàn nhạc ngũ âm, Rôneat-ek được xem là chủ đạo và có vai trò dồn bè. Mỗi loại nhạc cụ của dàn nhạc được định âm một cách chính xác, đảm bảo yếu tố hòa âm cho cả dàn để khi hòa tấu sẽ tạo ra một âm thanh rất độc đáo, từ rất trầm đến cao vút, ngọt ngào, sâu lắng đi vào lòng người. Hiện nay, trong dàn nhạc ngũ âm của người Khmer có thể thiếu một vài món, nhưng bắt buộc phải có cặp đàn Rôniêt-ek, Rô-niêt-thung, Cuông-tuôch, Cuông-thôm và cặp trống lớn thì mới hội đủ điều kiện diễn tấu.

Theo phong tục truyền thống của người Khmer, dàn nhạc ngũ âm của người Khmer chỉ được sử dụng phục vụ cho các vua, quan trong các triều đại phong kiến, trong các ngày lễ lớn như Dolta, Ooc-Om-Booc, tết Chol Chnam Thmay, Lễ dâng bông, Lễ cầu phước, đám tang, v.v. Xuất phát từ nhu cầu cuộc sống xã hội, ngày nay nhạc ngũ âm của người Khmer đã được mở rộng phạm vi hoạt động trong các cuộc liên hoan mừng công và trình diễn trong các ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch. Vào những ngày lễ hội này, rất đông bà con người Khmer từ vùng nông thôn cho đến thành thị nô nức vui chơi đến tận đêm khuya, cùng múa các điệu Ram – vôn, À – day hân hoan, rộn rã trong tiếng nhạc ngũ âm trầm trầm, vang vang. Ngoài ra, dàn ngũ âm còn có thể hòa tấu với các nhạc cụ khác như đàn cò, đàn sến, đàn gáo, v.v., tạo thành những âm thanh rất độc đáo.

Có thể nói dàn nhạc ngũ âm của người Khmer là một di sản quý báu, là biểu tượng của sự vui tươi, sung túc, ấm no, v.v., thể hiện nét đẹp văn hóa, nghệ thuật giàu tính truyền thống của dân tộc Khmer và cũng là một loại hình nghệ thuật phục vụ cho hoạt động du lịch của những địa phương có đông người Khmer sinh sống. Sự phát triển và đa dạng về các loại hình nghệ thuật trong thời gian gần đây, hoạt động chơi nhạc ngũ âm của người Khmer dần trở nên mai một nếu không được tiếp tục duy trì và phát triển kịp thời.

Giá trị phi vật thể nằm trong những di sản vật thể

Giá trị lịch sử – văn hóa:

Với đời sống và sinh hoạt của người Khmer, ngôi chùa luôn là một thiết chế văn hóa quan trọng và gắn bó nhất. Chùa là nơi tập trung và diễn ra hầu hết những hoạt động tôn giáo và văn hóa cộng đồng. Nhạc ngũ âm Khmer có mặt và tham gia trình tấu trong tất cả các đại lễ và nghi lễ Phật giáo ở chùa, trong tang lễ của người dân, từ lâu đã in dấu ấn sâu đậm trong tâm thức và đời sống của mỗi người dân Khmer từ thuở nhỏ đến lúc rời xa cuộc đời. Đó là những âm thanh và giai điệu mang tính ký hiệu vừa thiêng liêng, vừa quen thuộc, thân thiết và giàu cảm xúc đối với từng cá nhân và cả cộng đồng Khmer. Khi nghe tiếng trống (Skô Voth) cùng với tiếng nhạc vang lên tại các ngôi chùa Khmer thì người dân trong phum, sóc biết được đã đến ngày tổ chức các nghi lễ tôn giáo. Còn tiếng trống lễ tang vang lên ba hồi cùng tiếng nhạc Pinn Peat réo rắt sẽ là lời thông báo cho sự qua đời của một ai đó trong cộng đồng. Thông qua nhạc ngũ âm, mọi người được cùng hòa nguyện tâm hồn mình và tạo ra sự kết nối cộng đồng một cách tự nhiên, nhẹ nhàng nhưng hết sức bền chặt, sâu đậm.

Hình 2. Hội người mù tỉnh Sóc Trăng biểu diễn nhạc ngũ âm

Nhạc Ngũ Âm còn là một minh chứng mang tính tiêu biểu về mối quan hệ giao lưu và ảnh hưởng văn hóa giữa người Khmer với các quốc gia và dân tộc xung quanh trong suốt lịch sử tồn tại và phát triển lâu đời. Những yếu tố nguyên gốc, cổ truyền còn được bảo tồn, duy trì trong kho tàng nhạc ngũ âm cho thấy có sự liên quan, gần gũi về văn hóa nói chung và âm nhạc nói riêng của người Khmer với văn hóa Ấn Độ và các nền văn hóa Đông Nam Á.

Đặc biệt, không chỉ thể hiện sự tiếp thu, du nhập các yếu tố và giá trị văn hóa, nhạc ngũ âm Khmer còn phản ánh rất rõ sự tiếp biến và dung hòa cho phù hợp với môi trường và tính cách tộc người. Điều này có thể thấy rất rõ ở sự linh hoạt và ngẫu hứng trong phong cách trình diễn của các nhạc công trong dàn nhạc ngũ âm của người Khmer ở Sóc Trăng so với ở các địa phương khác, so với các nước xung quanh, điển hình là so với sự chặt chẽ, chuẩn mực, khuôn mẫu của nhạc ngũ âm ở Campuchia. Các nhạc cụ trong dàn nhạc trong cộng đồng Khmer Sóc Trăng cơ bản vẫn giữ được hình dạng cấu tạo và chức năng chính so với nguyên gốc, nhưng chúng ít nhiều đã có sự cải tiến và điều chỉnh. Thậm chí, người nghệ nhân Khmer ở Sóc Trăng còn thực hiện việc chỉnh lý cấu tạo các nhạc cụ để có thể hòa tấu với các loại nhạc cụ mới, hiện đại của phương Tây khi tham gia vào một số sinh hoạt mới của đời sống hiện đại. Điều đó đã tạo nên nét riêng, mang tính đặc trưng văn hóa của loại hình nhạc ngũ âm truyền thống của người Khmer ở Sóc Trăng.

Giá trị tâm linh, đạo đức:

Do được trân trọng và sử dụng trong tất cả những nghi lễ tôn giáo quan trọng và đời sống tộc người, nhạc ngũ âm được xem như là mối dây, chất xúc tác kết nối tinh thần, giữa Đạo và đời, giữa các Phật tử, giữa con người trần tục với thế giới tâm linh, là cây cầu và lời tiễn đưa để giúp con người về với thế giới bên kia. Âm thanh của dàn nhạc ngũ âm được xem là ngôn ngữ để con người giao tiếp với thần linh và các đấng siêu nhiên, là tiếng nói giữa người sống với người chết và cả tổ tiên ngàn đời đang ở phía bên kia thế giới của cõi Phật. Đó là những giá trị tinh thần vượt ra khỏi lớp vỏ âm nhạc. Về mặt đạo đức, tinh thần chứa đựng trong nhạc ngũ âm vừa là cánh tay nâng đỡ, thúc đẩy tâm hồn hướng Phật của con người, vừa là lời an ủi, xoa dịu nỗi buồn của những người ở lại khi đưa tiễn người quá cố. Bởi vậy, người dân Khmer luôn xem các nhạc khí trong dàn nhạc ngũ âm là “các vật thiêng” được kết tinh bởi trời đất theo quy luật âm dương và tồn tại trong mối quan hệ với thuyết ngũ hành, ngũ phương, ngũ âm, ngũ sắc.

Nội dung và ý nghĩa của những bài bản sử dụng trong dàn nhạc ngũ âm vốn xuất phát từ Phật giáo nên mang tinh thần giáo dục, khuyên răn con người hướng đến cái thiện, tốt đẹp, góp phần hình thành tâm hồn, tính cách hướng thiện của người dân Khmer.

Giá trị nghệ thuật – thẩm mỹ:

Cấu tạo của mỗi nhạc cụ, sự hợp thành của cả dàn nhạc ngũ âm là độc đáo, đặc trưng và có tính thẩm mỹ cao. Đàn Rôneat Ek, Rôneat Thung mang hình dáng của những chiếc thuyền được trang trí các đường nét hoa văn truyền thống Khmer; dàn cồng Kuông Vông Tôch và Kuông Vông Thum là sự thu gọn một cách tinh tế của những dàn cồng chiêng lớn trong các vòng tròn lễ hội; âm thanh mạnh mẽ, đa âm sắc, được phối hợp uyển chuyển, hài hòa, có lớp lang. Nhạc ngũ âm Khmer có sức hấp dẫn và thu hút mạnh mẽ.

Trình tấu nhạc ngũ âm Khmer truyền thống nhìn chung mang tính chất giao hưởng, hòa tấu. Để làm được việc này cần có sự chuẩn mực, có yêu cầu chất lượng nghệ thuật cao. Trên thực tế, nhạc ngũ âm Khmer được các chuyên gia uy tín đánh giá là dòng nhạc cao cấp và được tổ chức chặt chẽ nhất trong đời sống âm nhạc của đồng bào Khmer Nam Bộ. Đây cũng được xem là dàn nhạc dân tộc duy nhất của người Khmer được hoàn chỉnh, định âm, định tính; định âm trong từng nhạc cụ và cả hòa âm của dàn nhạc, bài bản đều được soạn sẵn cho từng nghi lễ. Trong một chừng mực nhất định, nhạc ngũ âm truyền thống của người Khmer ở Sóc Trăng, ở Nam Bộ có thể sánh ngang về chức năng và ý nghĩa với các loại hình âm nhạc truyền thống đặc sắc của các cộng đồng cư dân khác trên đất nước ta như Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên, Đờn ca Tài tử Nam Bộ, v.v.

Dạy người Khmer khiếm thị chơi nhạc ngũ âm Khmer – dự án đầy tính nhân văn

Những giá trị tinh thần mà nhạc ngũ âm Khmer mang lại là hết sức to lớn. Năm 2022, Chương trình lưu giữ các giá trị Văn hóa, Lịch sử của Quỹ VinIF nhận được một hồ sơ dự án về việc “Lưu giữ và phát triển nhạc ngũ âm trong đời sống người Khmer khiếm thị tỉnh Sóc Trăng”. Nhận thấy đây là một ý tưởng mới và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, hội đồng Quỹ VinIF đã kiến nghị nên tài trợ cho dự án này. Dự án gồm 2 nội dung là trang bị 1 dàn nhạc ngũ âm và mở 1 lớp dạy nhạc ngũ âm cho 8 hội viên là người Khmer khiếm thị. Vì vậy, tại buổi giao lưu, các diễn giả, nghệ nhân chia sẻ thêm một số kiến thức về nguồn gốc, vai trò, tầm quan trọng, các kỹ năng biểu diễn của nhạc ngũ âm. Bên cạnh đó, đội nhạc ngũ âm Hội Người mù cũng biểu diễn một số tiết mục nhạc ngũ âm để các đại biểu nhận xét, góp ý, v.v. Đây là hoạt động góp phần cho cán bộ, hội viên Hội Người mù và nhất là các học viên lớp nhạc ngũ âm tiếp cận thêm nhiều kiến thức, hiểu biết về nhạc ngũ âm. Từ đó, vận dụng vào quá trình học tập và biểu diễn nhạc ngũ âm.

Hình 3. Biểu diễn nhạc ngũ âm trong cộng đồng người khiếm thị Sóc Trăng

Theo số liệu thống kê của Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng, toàn tỉnh có 956 người mù cả hai mắt. Phần lớn người khiếm thị đều tập trung ở vùng nông thôn; tình trạng mù chữ, không có việc làm, thiếu cơ hội phục hồi chức năng, thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế và tiếp cận xã hội là rất cao nên đời sống của người khiếm thị cực kì khó khăn. Trong tổng số người mù của tỉnh Sóc Trăng, người khiếm thị dân tộc Khmer chiếm khoảng 40%, tập trung chủ yếu ở thị xã Vĩnh Châu và rải rác ở các huyện, thành phố còn lại của tỉnh Sóc Trăng.

Chơi nhạc ngũ âm là một trong những hoạt động văn hóa, văn nghệ rất phù hợp với người Khmer khiếm thị vì mặc dù họ bị khiếm khuyết về thị giác nhưng lại phát triển tốt về các giác quan khác, đặc biệt là xúc giác và thính giác. Họ có khả năng cảm thụ âm nhạc rất tốt và có đam mê sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc. Chơi nhạc ngũ âm giúp cho người Khmer khiếm thị rèn luyện các giác quan, phát triển năng khiếu về âm nhạc; có nghề nghiệp và mang lại thu nhập cho người khiếm thị khi tham gia biểu diễn. Tuy nhiên, chỉ có không quá 5% trong số người Khmer khiếm thị trong tỉnh Sóc Trăng biết chơi nhạc ngũ âm của người Khmer. Hiện nay, một số ít người Khmer khiếm thị trong tỉnh Sóc Trăng có thể tự nuôi sống gia đình họ bằng nghề và trở thành nghệ nhân nhạc ngũ âm trên địa bàn tỉnh.

Phần lớn người Khmer khiếm thị tự học nhạc ngũ âm từ gia đình, bạn bè truyền dạy chứ chưa được đào tạo chính quy, bài bản. Thêm vào đó, do điều kiện kinh tế của người Khmer khiếm thị trong tỉnh Sóc Trăng rất khó khăn, việc học tập của họ cần có sự hỗ trợ chuyên biệt làm hạn chế cơ hội tham gia các lớp học nhạc ngũ âm chính quy ở tỉnh. Hiện tại, một số học viên đã có thu nhập từ việc chơi nhạc ngũ âm qua việc biểu diễn tại chùa vào các dịp lễ hội; một số học viên còn lại thường xuyên luyện tập để tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ của người Khmer tại địa phương. Khi có điều kiện, các học viên này cũng đã chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng chơi nhạc ngũ âm của mình cho các bạn khiếm thị khác.

Năm 2007, Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng được tài trợ một dàn nhạc ngũ âm. Có được dàn nhạc, năm 2011, lớp dạy chơi nhạc ngũ âm đầu tiên của Hội được tổ chức với 8 học viên khiếm thị là người Khmer. Đến nay, qua 3 lớp dạy ngắn hạn, đã có 22 lượt hội viên tham gia học tập và có thể tự tin đứng trên sân khấu biểu diễn nhạc ngũ âm. Các anh, chị hội viên sau khi học chơi nhạc đều tham gia câu lạc bộ âm nhạc của Hội, biểu diễn tại các chương trình văn nghệ, giao lưu của Hội Người mù hoặc biểu diễn tại Lễ hội Oóc Om Bóc tỉnh Sóc Trăng. Một số hội viên có tay nghề khá còn được các đoàn mời chơi nhạc ngũ âm tại các buổi tiệc hay lễ hội, v.v. Ông Hoàng Xuân Luyện, Chủ tịch Hội Người mù tỉnh Sóc Trăng cho biết: “Tham gia khóa học, hội viên có cơ hội được tiếp cận, học và biểu diễn nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Hơn thế nữa, thông qua hoạt động này, cộng đồng cũng sẽ hiểu, chia sẻ và cảm nhận tích cực hơn về ý chí, năng lực của người khiếm thị khi họ được trao cơ hội học tập và làm việc”.

Chỉ sau 1 năm được nhận tài trợ từ VinIF, đến năm 2023, Hội người mù tỉnh Sóc Trăng đã mua mới 1 dàn nhạc ngũ âm của người Khmer, mở 1 lớp dạy nhạc ngũ âm cho 8 người Khmer khiếm thị; cán bộ và học viên của lớp ngũ âm được tham quan thực tế cơ sở gia công nhạc ngũ âm tại tỉnh Trà Vinh; tổ chức 2 buổi giao lưu nhạc ngũ âm giữa các học viên lớp ngũ âm của Hội Người mù phối hợp cùng Bộ môn Nghệ thuật Khoa Ngôn ngữ – Văn hóa – Nghệ thuật Khmer Nam Bộ tại Trường Đại học Trà Vinh, NSƯT Kim Nghinh, một số giảng viên Trường Đại học Trà Vinh và sinh viên Trường Đại học Trà Vinh; và giao lưu nhạc ngũ âm giữa các học viên lớp ngũ âm của Hội Người mù với TS.NS. Sơn Ngọc Hoàng, đ/c Trần Minh Lý, Tỉnh ủy viên – Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng.

Hình 4. Sinh viên Trường Đại học Trà Vinh biểu diễn nhạc ngũ âm trong buổi giao lưu

Qua các buổi giao lưu, học viên của lớp nhạc ngũ âm và cán bộ tham gia dự án hiểu biết sâu sắc hơn về loại hình âm nhạc ngũ âm, các lưu ý, kỹ thuật biểu diễn nhạc ngũ âm, bày trí và giữ gìn nhạc cụ nhạc ngũ âm, đồng thời hiểu thêm về các chương trình của tỉnh Sóc Trăng trong việc bảo tồn và phát triển nhạc ngũ âm của tỉnh, các cơ hội để đội nhạc ngũ âm của Hội Người mù tham gia các sự kiện văn hóa nghệ thuật lớn của địa phương. Hội cũng phối hợp Đài Phát thanh Truyền hình Sóc Trăng, Báo Sóc Trăng, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng, Đài VTV4 tiến hành quay phóng sự, tư liệu về đội nhạc ngũ âm của Hội.

Sau một thời gian theo học lớp dạy chơi nhạc ngũ âm, anh Danh Thiện chia sẻ: “Việc học nhạc ngũ âm của người khiếm thị có vất vả và mất thời gian hơn bình thường, nhưng khi đã nhớ nốt nhạc thì khả năng nhớ rất lâu. Trong quá trình dạy, các thầy thường xuyên chia sẻ về ý nghĩa, giá trị của nhạc ngũ âm, chỉ dạy học viên về kỹ năng giao tiếp và biểu diễn, giúp học viên hiểu rõ hơn giá trị của nhạc ngũ âm và có kỹ năng biểu diễn tốt hơn. Dù cơ thể bị khiếm khuyết và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng việc học nhạc ngũ âm góp phần để tôi luôn giữ được cho mình một thái độ sống lạc quan, vui vẻ”.

Tác giả: Ngô Thị Hà, Hội người mù tỉnh Sóc Trăng.

Biên tập và tổng hợp: Quỹ đổi mới sáng tạo Vingroup (VinIF).

Tài liệu tham khảo

  1. Sơn Ngọc Hoàng, Đào Huy Quyền, Ngô Khị (2005), Nhạc khí dân tộc Khmer Nam bộ, Nxb. Khoa học Xã hội.
  2. Đào Huy Quyền, Sơn Ngọc Hoàng, Ngô Khị (2007), Nhạc khí dân tộc Khmer Sóc Trăng, Nxb. Tổng hợp TPHCM.
  3. Sơn Ngọc Hoàng (2016), Âm nhạc nghi lễ dân gian trong văn hóa của người Khmer ở Sóc Trăng, Luận án Tiến sĩ ngành Văn hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Tìm hiểu thêm các viết về dự án:

Có thể là hình ảnh về 3 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'VINIF A LỄ KÝ KẾT TÀI TRỢ DỰ ÁN VĂN HOA LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG TRANG TRÍ TRÊN CHUÔNG ĐỒNG C MIỀN TRUNG PHỤ CÔNG TÁC BẢO TÒN DI SẢN MỸ THUẬT ĐIỀN HÌNH TẠI 4 TỈNU ẢNG IH, QUA TRỊ, THỪA THIÊN HUẾ TỎ CHỨC HỌC NGHỆ T ĐẠI HỌC HUÉ PHA''
TS. Đỗ Xuân Phú (trái) – Hiệu trưởng Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế và TS. Phan Lê Chung (phải) – Chủ nhiệm dự án tại Lễ ký kết tài trợ dự án Văn hóa Lịch sử năm 2022

Phật giáo Việt Nam được xây dựng và phát triển từ nhiều con đường như truyền thà trực tiếp từ Ấn Độ, từ các nhà sư theo thuyền buôn và Việt Nam hay theo đường bộ từ Trung Quốc truyền sang. Theo thống kê năm 2020, Việt Nam hiện có hơn 14 nghìn ngôi chùa trên khắp đất nước, trong đó tại miền Trung, Quảng Bình có hơn 20 ngôi, Quảng Trị có gần 20 ngôi, Huế có hơn 300 ngôi và Quảng Nam – Đà Nẵng có có khoảng 30 ngôi chùa.

Dự án nhằm nghiên cứu về hệ thống trang trí trên chuông chùa tại miền Trung Việt nam, điển hình tại 4 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng, nơi có sự giao thoa đặc trưng về văn hóa Đại Việt – văn hóa Champa và mỹ thuật triều Nguyễn. Thông qua nghiên cứu để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về hệ thống trang trí, xây dựng các sản phẩm nghiên cứu cụ thể phục vụ cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo nói riêng và giá trị văn hóa Việt Nam nói chung.


Đại diện tổ chức chủ trì và Chủ nhiệm dự án tại Lễ ký kết tài trợ dự án Văn hóa Lịch sử năm 2022

Giới thiệu về dự án:

“Nghiên cứu, sưu tầm, xuất bản và lưu giữ những giá trị văn hóa – lịch sử của người Chăm Việt Nam” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì. Dự án sẽ tiến hành nghiên cứu, bổ sung tài liệu văn hóa – lịch sử Champa trên nền tảng bản thảo sẵn có và sản phẩm cuối cùng của dự án sẽ xuất bản 03 bộ sách bao gồm 11 tập: Bộ 1: Văn hóa Champa (4 tập); Bộ 2: Nghề thủ công truyền thống Champa (3 tập); Bộ 3: Văn học Champa – Tiếp cận qua văn bản học (4 tập). Dự án sẽ thực hiện trong thời gian 3 năm (2022-2025).

Công trình có lượng tích lũy và lưu trữ tài liệu đồ sộ (so với một cá nhân/nhà nghiên cứu riêng lẻ), không chỉ để bảo tồn, phổ biến di sản văn hóa Champa mà còn đặt nền móng quan trọng để hướng tới đích cuối cùng là hoàn thành bộ sách Bách khoa toàn thư về văn hóa – lịch sử Champa. Đây là kết quả lao động khoa học miệt mài trong suốt thời gian gần 30 năm nghiên cứu (1992-2022) của tác giả PGS.TS. Trương Văn Món (Sakaya).

Những điểm nổi bật của dự án này là tác giả có cách tiếp cận theo hướng nghiên cứu mới, nghiên cứu văn hóa – lịch sử Champa theo vùng. Vì thế bộ sách sẽ trình bày những vấn đề cụ thể về văn hóa – lịch sử Champa ở từng vùng, từ phía Bắc (Huế – Đà Nẵng – Bình Định – Nha Trang) đến vùng phía Nam Champa (Ninh Thuận – Bình Thuận) và cuối cùng là vùng Chăm Islam ở Nam Bộ ngày nay. Ngoài những kiến thức cơ bản về Champa đã được các tác giả công bố trước đây ở trong và ngoài nước, dự án/bộ sách còn đưa ra nhiều tài liệu, khiến giải mới được rút ra từ những tài liệu quý giá như tài liệu văn bia đang lưu giữ ở các di tích miền Trung; tài liệu văn bản chữ Chăm (bằng giấy, lá buông) đang lưu ở các làng Chăm; những tài liệu hoàng gia Champa đang lưu giữ ở Pháp; đặc biệt là những tài liệu mà tác giả thu thập qua những chuyến điền dã tại vùng Chăm ở Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế giới. Bộ sách sẽ hóa giải những vấn đề còn phức tạp, lộn xộn của nền văn hóa – lịch sử Champa trở thành những vấn đề đơn giản, có hệ thống để quý độc giả dễ đọc, dễ hiểu và dễ nhớ.


Sa Huỳnh là di chỉ khảo cổ học tiêu biểu cho giai đoạn tiền Champa ở miền Trung Việt Nam. Đây là một nền văn hóa được hình thành bắt đầu vào khoảng thế kỷ X TCN kéo dài đến cuối thế kỷ II. Văn hóa Sa Huỳnh góp phần cùng văn hóa Đông Sơn (người Kinh) ở phía Bắc và văn hóa Óc Eo (Phù Nam) ở phía Nam làm phong phú, đa dạng nền văn minh cổ Việt Nam. Sau năm 1975 các nhà khảo cổ Việt Nam và học giả khác của nước ngoài đã phát hiện nhiều di chỉ cư trú của người Sa Huỳnh với nhiều hiện vật phong phú, đa dạng liên quan đến nghề biển, nghề khai thác lâm sản, nghề nông và đặc biệt là nghề thủ công truyền thống.

Người Sa Huỳnh – Champa ở dải đất miền Trung

Người Sa Huỳnh thích nghi tốt với điều kiện địa lý, môi sinh ở miền Trung. Vùng này có đường bờ biển dài tiếp giáp với biển Đông rộng lớn, thúc đẩy người Sa Huỳnh đóng tàu biển để vươn ra khơi xa đánh bắt cá, buôn bán, giao lưu với nước ngoài. Mặt hàng của Sa Huỳnh mà nước ngoài ưa chuộng, ngoài những sản vật quý hiếm của biển như vi cá mập, là những sản phẩm của rừng nhiệt đới như ngà voi, trầm hương, sa nhân, roi mây. Cùng với biển và rừng, để thích nghi với cánh đồng miền Trung khô hạn, người Sa Huỳnh còn biết chế tạo ra công cụ sản xuất bằng sắt rất sớm; biết đào giếng, làm thủy lợi; tìm được giống lúa thích hợp, v.v. Đó là những nhân tố rất quan trọng để cư dân Sa Huỳnh có thể chinh phục biển, khai thác rừng một cách hiệu quả, nhất là đã làm nên cuộc cách mạnh xanh trong nông nghiệp về giống lúa và thủy lợi. Từ đó tạo ra bước nhảy vọt cho cư dân Sa Huỳnh ở miền Trung có đời sống vật chất và tinh thần phong phú, giàu có hơn cư dân khác ở vùng Đông Nam Á. Đây là tiền đề rất quan trọng tạo nền tảng vững chắc về vật chất và tinh thần dẫn đến sự ra đời nhà nước Champa sau này ở miền Trung – không gian sinh tồn của cư dân Sa Huỳnh.

Công cụ sản xuất và kỹ thuật chế tác công cụ sản xuất

Những hiện vật cơ bản của Sa Huỳnh nêu trên, hiện nay vẫn có mặt trong nền văn hóa Champa. Về công cụ sản xuất, cho đến nay, mỗi gia đình nông dân người Champa ở Ninh Thuận – Bình Thuận vẫn còn sử dụng bộ công cụ rất cơ bản tương tự như của người Sa Huỳnh bao gồm: cuốc, rựa, rìu răng trâu bằng sắt. Đây là ba loại công cụ bằng sắt cơ bản để người Sa Huỳnh chinh phục mảnh đất miền Trung khô hạn trong sản xuất nông nghiệp; cuốc để cuốc đất; rựa chỉ dùng để chặt cây nhỏ, phát quang; rìu răng trâu dùng để chặt cây to và gỗ. Mặc dù rìu răng trâu của người Sa Huỳnh – Champa có kích thước nhỏ (cao khoảng 8-10cm, rộng phần lưỡi khoảng 5cm) nhưng sức chặt phá cây rất lớn, chiếm ưu thế hơn rìu bôn có vai ở các nền văn minh khác; nguyên nhân là do rìu răng trâu chỉ tra cán dẹp xuôi theo đường rãnh từ đầu đến thân rìu nên khi chặt cây to, rìu ăn được sâu vào thân cây gỗ mà không bị vướng cán rìu; nếu sử dụng rìu/bôn có vai thì phải tra cán nằm lồi lên đầu và vai rìu nên khi chặt cây to sẽ bị vướng cán rìu, năng suất lao động thấp. Đây là lý do tại sao, trong di chỉ Sa Huỳnh về sau thiếu vắng rìu/bôn có vai mà phổ biến loại rìu răng trâu (xem ảnh H.13, H.15, H.16 trong Hình 1).

Hình 1. Các loại cuốc hình thanh, hình tứ giác, rìu hình răng trâu (di chỉ Xóm Cồn)

Về kỹ thuật chế tác công cụ sản xuất: Hiện nay lò rèn công cụ sản xuất của người Sa Huỳnh không còn, chỉ còn biết hình hài bóng dáng của lò rèn và kỹ thuật rèn của các dân tộc có nguồn gốc Champa. Riêng người Champa ở Ninh Thuận và Bình Thuận, nghề rèn chỉ còn lại dấu vết qua truyện cổ “Patau Tabai Nai Bala” (Vua Tabai và Nàng Ngà) (Sakaya, 2017, tr.242-248). Nói chung kỹ thuật rèn này cơ bản dùng lửa từ than củi, đất nung sống làm hình, phân trâu tạo khuôn, nhiệt độ 1000oC. Khi rèn xong hiện vật có hình hài rất thô nên người thợ rèn phải tu sửa và trang trí thành hình hiện vật như ý muốn.

Đồ trang sức và kỹ thuật chế tác đồ trang sức

Người Sa Huỳnh thường chôn theo người chết nhiều đồ trang sức bằng đồng, đá quý, mã não, thủy tinh, vàng, đặc biệt là loại khuyên tai ba mấu nhọn (dùng cho nữ) và khuyên tai hai đầu thú (dành cho nam). Ở Lai Nghi, các nhà khảo cổ đã tìm thấy trong những khu mộ táng của văn hóa Sa Huỳnh các bộ hạt chuỗi có giá trị như hơn 8.600 hạt cườm bằng thủy tinh màu xanh, vàng hoặc nâu có đường kính 1-3 mm; hay 1.500 hạt bằng đá mã não (agate), hồng mã não (cornaline), thạch lựu (renat) với nhiều màu sắc khác nhau.

Trong tổng số 1.136 hạt chuỗi bằng đá mã não tìm thấy ở Lai Nghi có 3 chiếc rất đặc biệt: chiếc thứ nhất có hình con chim nước, chiếc thứ hai có hình con hổ hoặc sư tử và chiếc thứ ba là hạt chuỗi khắc. Cả 3 hạt chuỗi này được phát hiện trong 3 mộ chum khác nhau cùng với nhiều đồ tùy táng quý khác có niên đại vào thế kỷ I – II TCN. Những di vật hiếm thấy khác được kể đến là hai cái gương đồng của thời kỳ Tây Hán.

Riêng thủy tinh nhân tạo là một thành tựu rực rỡ của văn hóa Sa Huỳnh. Các cư dân dùng cát trắng để nấu thủy tinh làm bát lọ và đặc biệt những chuỗi hạt trang sức bằng thủy tinh mà sử sách Trung Hoa gọi là “Lưu ly” (gốc từ chữ Phạn là verulia) từ đầu Công nguyên. Đây là một trong những nơi làm ra thủy tinh nhân tạo sớm trên thế giới. Chúng không những đa dạng về kiểu dáng mà còn phong phú về màu sắc như xanh lơ, xanh đen, xanh lá mạ, xám, tím, đỏ và nâu. Sử Trung Hoa đã từng ghi chép về một chén thủy tinh xuất phát từ vùng đất này mà họ gọi là chén lưu ly với một sự trân trọng và khâm phục (Trịnh Sinh – Phạm Lê Trung, 1998; https://vi.wikipedia.org/van hoa sa huynh).

Trong những đồ trang sức trên, đáng chú ý là khuyên tai hai, ba đầu thú đã trở thành biểu tượng chung của nền văn minh, có thể tìm thấy phổ biến không những ở các di chỉ Sa Huỳnh mà còn ở các quốc gia khác như Thái Lan, Malaysia, Philippines. Về biểu tượng khuyên tai hai, ba đầu thú trong văn hóa Sa Huỳnh, đến nay có một số kiến giải khác nhau; có tác giả cho rằng đó là đầu lừa hoặc đầu dê. Mặc dù ngày nay người Champa không còn sử dụng loại khuyên tai này nhưng biểu tượng dầu dê vẫn còn xuất hiện phổ biến trong nền văn hóa Champa. Thiết nghĩ với điều kiện địa lý, môi sinh ở miền Trung, không gian Sa Huỳnh với đặc điểm nổi bật là núi không cao, đồng bằng hẹp, ít đồng cỏ rộng lớn, trước mặt chỉ có biển bao la nên con dê là thích hợp với khí hậu, môi trường sinh thái ở đây hơn là con lừa (họ ngựa). Cho đến nay, người Champa ở Ninh Thuận – Bình Thuận vẫn còn phát huy truyền thống nuôi dê, nuôi trâu, chứ không thấy nuôi lừa. Hơn nữa câu chuyện về con dê vẫn còn thể hiện trong nhiều những truyện cổ của người Champa từ thời Lâm Ấp; ví dụ, trong Thủy Kinh chú (thế kỷ V) có ghi “ Phạm Văn, nguyên ban đầu là một nô bộc, xuất thân là mục đồng chăn dê được thần linh phù trợ có được kiếm sắt luyện từ quặng, mà tiếp tục nối lại sự nghiệp Lâm Ấp (do Ku-lien khởi xướng từ trước)” (Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, 1991, tr. 30-31). Về sau, con dê vẫn xuất hiện trong văn hóa Champa qua nhiều truyện dân gian như truyện Akayét Um Marup (Hoàng tử và cô gái chăn dê) (Po Dharma và các tác giả, 2007) và truyện Sọ Dừa (Ja Balaok Li-U) (Sakaya chủ biên, 2017, tr.117-136). Đặc biệt đến nay, dê vẫn còn là một trong những vật tam sinh (dê – gà – trâu) trong lễ cúng lớn của người Champa. Đầu dê (luộc chín để nguyên) luôn là lễ vật cúng chính được đặt trang trọng trên mâm cao dâng lên thần linh trong các dịp lễ cúng tế như lễ cúng đền tháp, lễ nhập Kut cho người chết, lễ nghi nông nghiệp (cúng đất, cúng ruộng, cúng đập nước) và lễ nghi của làng và gia đình (Sakaya, 2012). Từ đây có thể suy đoán rằng, con dê rất quan trọng, gần gũi trong đời sống của người Sa Huỳnh, là con vật vừa cung cấp thực phẩm cho con người, vừa là lễ vật chính cúng tế thần linh, vì thế người Sa Huỳnh rất tôn thờ con dê và lấy con dê làm biểu tượng cho khuyên tai chôn theo người chết, chứ không phải con lừa hay con vật ma thuật nào khác (xem ảnh H.19 trong Hình 2).

Hình 2. Hình tượng khuyên tai hầu thú – hình đầu dê trên trang sức của nền văn hóa Sa Huỳnh – Champa

Ngoài hiện vật khuyên tai hai đầu thú, ba đầu thú hiện nay không thấy sử dụng thì một số đồ trang sức khác kiểu trang sức trên của cư dân Sa Huỳnh vẫn còn được người Champa tiếp tục kế thừa phát huy, phát triển rất rực rỡ trong những thế kỷ về sau của vương quốc Champa (Lê Xuân Diệm – Vũ Kim Lộc, 1996, tr.15-25). Hiện nay những đồ trang sức cơ bản của cư dân Sa Huỳnh vẫn còn thấy ở phụ nữ lớn tuổi ở Tây Nguyên, chủ yếu là hoa tai hình tròn (gọi là hayau deng hoặc beng tangi), vòng cổ (gọi là nyuk), vòng tay, vòng chân (kong tangin, takai) làm bằng xương, đá hoặc đồng. Riêng người Champa ở Ninh Thuận và Bình Thuận thì còn đeo 3 đồ trang sức cơ bản: hoa tai hình nấm có đính tua đỏ (yau deng), nhẫn mata bằng đồng hoặc vàng và xâu chuỗi hột tròn bằng vàng xâu thành nhiều vòng. Kỹ thuật chế tác đồ trang sức hiện nay ở người Champa đã thất truyền, chỉ còn lưu giữ ở người Churu (Đơn Dương – Lâm Đồng).

Một ví dụ về quy trình làm nhẫn của người Champa

Tạo mẫu nhẫn: nhẫn đầu tiên được làm mẫu bằng sáp ong, trang trí đầy đủ các hoa văn và khắc vạch đầy đủ tất cả những góc cạnh mà thợ cần trang trí. Kích thước nhẫn được thợ định sẵn và nhẫn bằng mẫu sắp ong có thể co giãn được bằng cây gậy gọi là “agai laong kayau”. Mỗi lần tạo mẫu ít nhất từ hai đến ba chiếc nhẫn.

Tạo khuôn đổ nhẫn bạc: sau khi hoàn chỉnh mẫu nhẫn bằng sáp ong, người thợ bắt đầu tạo khuôn để đổ nhẫn bạc. Khuôn được làm như sau: người thợ lấy hai đến ba chiếc nhẫn mẫu bằng sáp ong cột vào đầu một que tre dài khoảng 20cm và ở phần giữa của que tre có gắn thêm một chiếc phẻo nhỏ làm bằng lá dứa dính vào hai chiếc nhẫn mẫu để đổ bạc nóng chảy vào khuôn. Sau đó, thợ nhúng nguyên phần đầu que tre có gắn những chiếc nhẫn mẫu bằng sáp ong vào phân trâu quấy lỏng để sẵn trong một xô nhỏ rồi đem phơi; khoảng mười lăm phút sau thì phân trâu khô bám và bao bọc xung quanh chiếc nhẫn mẫu bằng sáp ong. Cứ mười lăm phút họ nhúng que tre có gắn nhẫn mẫu bằng sáp ong vào phân trâu một lần, nhúng khoảng ba lần thì phân trâu bám vào nhẫn mẫu bằng sáp ong đủ dày, tạo lớp áo cho chiếc nhẫn mẫu, từ đó mà thành khuôn.

Lò nấu thỏi bạc đúc nhẫn mata: lò nấu thỏi bạc để tạo nhẫn mata có kích thước nhỏ, đơn giản, chỉ sử dụng bếp lửa và hai ống hơi bằng sắt, giống ống hơi thợ rèn để thổi lửa. Ngày nay, lò đổ bạc của ông Ya Bơyu (một nghệ nhân làm nhẫn mata truyền thống) hiện đại hơn, được xây bằng gạch (dài 50cm x rộng 30cm x cao 0,5cm), dùng ống thổi lửa. Lò này chỉ cần 1-2kg than là có thể đủ nấu bạc nóng chảy để đổ được từ ba đến sáu chiếc nhẫn mata.

Cách đổ bạc để tạo thành nhẫn mata: khi lò lửa chuẩn bị xong, hai người thợ (một thợ chính và thợ phụ) bắt đầu làm công việc đổ nhẫn bạc. Đầu tiên người thợ phụ – vợ ông Ya Bơyu đưa khuôn nhẫn mẫu bằng sáp ong có bao bọc phân trâu khô vào lò lửa; khoảng năm phút sau thì chiếc nhẫn mẫu bằng sáp ong trong khuôn phân trâu bị nóng chảy ra ngoài, chỉ còn lại khuôn trống. Lúc này thợ chính – ông Ya Bơyu đưa chén nhỏ làm bằng gốm có bỏ thỏi bạc vào lò. Lửa lò được thổi mạnh, khoảng 10 phút sau thì bạc nóng chảy; thợ chính cầm đũa dài bằng sắt gắp chén gốm đựng bạc nóng chảy đổ vào khuôn trống bằng phân trâu theo đường phẻo nhỏ làm bằng lá dứa gắn với que tre mà người thợ phụ đang cầm sẵn. Khoảng vài phút sau, người thợ phụ đưa khuôn đã đổ bạc nhúng vào một tô nước lạnh để sẵn gần đó. Khi khuôn đổ bạc đang nóng được nhúng vào nước lạnh thì nhiệt độ thay đổi đột ngột nên khuôn mẫu bằng phân trâu bị vỡ ra và cuối cùng bên trong chỉ còn lại chiếc nhẫn bằng bạc đẹp mắt. Đó là quy trình đúc nhẫn mata của người Churu (xem ảnh).

Trang trí hoa văn: hoa văn trên nhẫn được trang trí ngay lúc nhẫn làm mẫu bằng sáp ong để in dập trước vào khuôn bằng phân trâu; chỉ có hoa văn “mata” (mắt) được gắn kết sau khi nhẫn bạc được đúc xong. Để tăng thêm độ tinh xảo, đẹp mắt cho chiếc nhẫn mata, sau khi đúc xong nhẫn bạc, người thợ dùng những chiếc dũa sắt, dũa lại những đường gờ, những vết nối cho bằng phẳng. Cuối cùng, họ đem nhẫn đi nấu với trái chùm kết (quả bồ kết) khoảng nửa giờ để tăng thêm độ bóng và sáng cho nhẫn bạc.

Hoa văn trang trí trên nhẫn chủ yếu là hoa văn hình “mata”, mô tả mặt trời được khắc họa bằng ngôi sao tám cánh, ở chính giữa có gắn một hột tròn màu đỏ gọi là “baoh kraik” (hột cây kơnia) và hoa văn hình bông lúa dài, chạy xung quanh mặt trời hoặc phủ đầy vòng nhẫn. Bên cạnh hoa văn lúa còn có hoa văn lá rừng và hoa văn mắt con sâu nhưng các loại hoa văn này chiếm tỉ lệ ít, không phổ biến. Do hoa văn “mata” mô tả hình mặt trời và bông lúa là hoa văn chủ đạo của chiếc nhẫn này, người Churu chọn luôn tên của hoa văn để đặt tên cho chiếc nhẫn truyền thống của họ, gọi là “Karah Mata” (nhẫn mata) (xem ảnh H.28 trong Hình 3).

Hình 3. Nhẫn truyền thống mata – “Karah Mata”

Nói chung, đồ trang sức của người Sa Huỳnh đa dạng, độc đáo, trong đó quý nhất là khuyên tai hai đầu thú, ba đầu thú, những loại hoa tai, vòng tay, xâu chuỗi chế tác bằng các loại đá quý, mã não, thủy tinh nhiều màu; trình độ chế tác đã đạt đến trình độ tinh xảo ở vùng Đông Nam Á. Ngày nay, tuy kỹ thuật chế tác đồ trang sức của cư dân Sa Huỳnh đã thất truyền từ lâu nhưng những gì còn lại trong kỹ thuật chế tác đồ trang sức của người Churu (Lâm Đồng) cũng giúp chúng ta ít nhiều hình dung được diện mạo và sự phát triển của ngành kỹ thuật cổ xưa và rất độc đáo này (Sakaya, 2011, tr. 73-75).

Gốm Sa Huỳnh và gốm Champa ngày nay

Trong những hiện vật của người Sa Huỳnh tìm thấy từ Quảng Bình đến Bình Thuận, ngoài những hiện vật là những công cụ lao động sản xuất, đồ trang sức thì thu được nhiều nhất vẫn là đồ gốm, mộ chum. Văn hóa Sa Huỳnh còn được mệnh danh hay gọi cách khác là “Văn hóa mộ chum”. Rõ ràng, đồ gốm của người Sa Huỳnh, ngoài việc sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày làm các dụng cụ đựng nước, đựng sản phẩm nông nghiệp, đựng cá biển chế biến nước mắm, dùng để đun nước, nấu ăn, v.v, còn dùng để chôn người chết. Đặc điểm gốm Sa Huỳnh được các nhà khoa học đánh giá là có những nét chung với dòng gốm của các dân tộc khác cùng thời ở vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Philippines.

Kết quả so sánh cho thấy giữa gốm Bàu Trúc và gốm Sa Huỳnh có những nét giống nhau và khác nhau. Ðặc biệt, những cái khác nhau chính là những nét đặc trưng riêng biệt của mỗi loại gốm. Căn cứ trên những đặc trưng riêng biệt ấy của mỗi loại gốm có thể tạm xác định như sau:

Gốm Sa Huỳnh là một loại gốm vùng biển (nổi trội):

Ðặc trưng của loại gốm này là có kỹ thuật chế tác bằng tay và có bàn xoay, kết hợp với phương pháp vải cuộn, vòng quơ, vòng cạo bằng tre; chất liệu đất sét và cát có lẫn bã thực vật, ngâm nguyên liệu (đất sét) bằng nước lợ (có độ mặn) nên có độ dính không cao; hoa văn trang trí chủ yếu là hoa văn chải toàn thân, khắc vạch hình sóng nước, in vỏ sò, v.v.; sản phẩm gốm đa số là đồ đựng có kích thước nhỏ, chủ yếu là màu vàng và xám; kỹ thuật nung gốm lộ thiên.

Gốm Bàu Trúc – Champa gốc cũng là gốm vùng biển, về sau ảnh hưởng yếu tố lục địa:

Ðặc trưng của loại gốm này là có kỹ thuật chế tác bằng tay, hòn kê, không có bàn xoay kết hợp với phương pháp vải cuộn, vòng quơ, vòng cạo; chất liệu đất sét trộn với loại cát sông nhỏ, mịn màng, không pha lẫn bả thực vật; ngâm đất sét với nước ngọt nên độ kết dính cao; hoa văn trang trí là những đường khắc vạch hình sóng nước, chấm vỏ sò và hoa văn thực vật, có cả hoa văn móng tay, v.v.; sản phẩm gốm là những đồ đựng kích thước nhỏ có nhiều màu như đỏ, hồng, vàng, xám, đen, đốm; kỹ thuật nung gốm ngoài trời.

Như vậy, kết quả so sánh trên cho thấy, gốm Sa Huỳnh có những đặc điểm chung và để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong kỹ thuật làm gốm Champa ngày nay như gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận), gốm Bình Đức (Bình Thuận) và gốm Churu ở Krang Gọ (Lâm Đồng). Gốm Champa ngày nay vẫn còn lưu giữ, kế thừa và phát huy kỹ thuật làm gốm của người Sa Huỳnh. Đây chính là cơ sở tư liệu khoa học quan trọng góp phần cùng với những thông tin khác làm sáng tỏ mối quan hệ giữa văn hóa Sa Huỳnh, Champa và người Champa ngày nay trên dải đất miền Trung Việt Nam.

Tác giả: PGS.TS. Trương Văn Món, Nhà nghiên cứu văn hóa Champa, Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG Tp. HCM.

Biên tập: Quỹ đổi mới sáng tạo Vingroup (VinIF).


Tìm hiểu thêm các viết về dự án: