Giải Nobel Y học 2020 vinh danh thành tựu nghiên cứu virus viêm gan C

Giải Nobel Y học 2020 được trao cho Harvey J. AlterMichael Houghton và Charles M. Rice. Ba nhà khoa học được trao giải vì đã có những đóng góp mang tính chất quyết định trong việc phát hiện virus viêm gan C và chứng minh đây là nguyên nhân chủ yếu gây viêm gan mạn tính, dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Đây là những vẫn đề sức khỏe toàn toàn cầu, đe dọa tính mạng của hàng triệu người trên toàn thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện có khoảng 71 triệu người nhiễm virus viêm gan C mạn tính trên toàn cầu và hàng năm có khoảng 400 nghìn người tử vong do biến chứng của bệnh này, chủ yếu là xơ gan và ung thư gan. Hiện đã có thuốc điều trị viêm gan C với hiệu quả lên đến 95% tuy nhiên việc tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh còn rất hạn chế. Vaccine phòng bệnh viêm gan C vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và phát triển.

Hiện đã có năm loại virus gây viêm gan được biết đến là virus viêm gan A, B, C, D, E. Hai virus viêm gan A và E lây truyền qua đường ăn uống, chỉ gây bệnh cấp tính và đa số tự khỏi và không để lại hậu quả lâu dài. Hiện đã có vaccine viêm gan A. Ba virus viêm gan B, C, D lây truyền qua đường máu, gây nhiễm trùng và tổn thương gan mạn tính, dần dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Virus viêm gan D chỉ phát hiện được trên nền bệnh nhân đã nhiễm viêm gan B và làm cho tình trạng viêm gan B nặng hơn nên trong thực hành lâm sàng không được chẩn đoán và điều trị riêng rẽ. Vaccine dự phòng viêm gan B đã được đưa vào Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam nhiều năm nay. Năm 1976, Baruch Samuel Blumberg đã nhận giải Nobel Y học cho việc phát hiện virus viêm gan B, phát triển xét nghiệm chẩn đoán cũng như vaccine phòng bệnh.

Vào thập niên 1970, Harvey J. Alter làm việc tại Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (US National Institutes of Health) nghiên cứu bệnh viêm gan ở những người bệnh được truyền máu. Việc xét nghiệm chẩn đoán viêm gan B đã giúp việc sàng lọc và loại trừ nhiễm virus viêm gan B qua đường truyền máu tuy nhiên Alter và cộng sự vẫn tỏ ra quan ngại sâu sắc vì vẫn còn một tỷ lệ lớn người bệnh vẫn bị viêm gan liên quan đến truyền máu dù đã qua sàng lọc viêm gan B. Họ đã làm thí nghiệm truyền máu của người bệnh nhiễm viêm gan mạn tính, đã loại trừ viêm gan B, sang tinh tinh và chứng mình rằng có một loại tác nhân gây viêm gan mạn tính khác chưa được biết đến, có khả năng lây truyền qua đường máu. Các nghiên cứu sau đó chứng mình rằng tác nhân này có đặc điểm của một loại virus, tạm được gọi là viêm gan “không A, không B”.

Việc phân lập được virus viêm gan C không hề đơn giản. Phải mất hơn mười năm sau, Michael Houghton, mới phân lập được trình tự gene của virus. Houghton và cộng sự đã thu thập được các mảnh DNA từ máu của tinh tinh nhiễm bệnh. Một phần lớn DNA này là của bản thân tinh tinh, nhưng nhóm nghiên cứu đã sử dụng kháng thể trong huyết thanh người bệnh để nhận diện các mảnh DNA mã hóa cho protein của virus viêm gan C.

Charles M. Rice, có những đóng góp tiếp theo trong việc chứng mình virus viêm gan C có thể là tác nhân độc lập gây nên bệnh viêm gan mạn tính. Rice và cộng sự đã dùng các kỹ thuật gene để tạo ra các biến chủng khác nhau của virus viêm gan C, và chứng minh vai trò gây bệnh của virus trên mô hình thực nghiệm ở tinh tinh bằng các bằng chứng virus trong huyết thanh và tổn thương gan đặc hiệu ở tinh tinh.

Các nghiên cứu về virus viêm gan C của các nhà khoa học đạt giải Nobel năm nay đã giúp chế tạo xét nghiệm chẩn đoán và thuốc điều trị bệnh viên gan C. Việc này giúp ích rất lớn không chỉ cho việc chẩn đoán, điều trị người bệnh nhiễm virus mà còn giúp dự phòng lây nhiễm từ những người đã nhiễm sang những người khác qua đường máu. Xét nghiệm virus viêm gan C nay đã khá phổ biến và được sử dụng để sàng lọc thường quy cho các chế phẩm máu cũng như người bệnh làm các phẫu thuật, thủ thuật nhưng thuốc điều trị viêm gan C ở Việt Nam giá còn cao và ít người bệnh được tiếp cận.

Tóm tắt những phát hiện của ba nhà khoa học đạt giải Nobel Y học 2020 theo trình tự thời gian. Các nghiên cứu mang tính phương pháp luận về viêm gan liên quan đến truyền máu của Harvey J. Alter đã chỉ ra rằng có một loại virus chưa biết tên là căn nguyên phổ biến gây viêm gan mạn tính. Michael Houghton sử dụng một chiến lược chưa có tiền lệ và đã thành công trong việc phân lập bộ gen của virus mới sau này được đặt tên là virus viêm gan C. Charles M. Rice hoàn thiệm cụm công trình nghiên cứu bằng việc cung cấp bằng chứng khoa học chứng minh rằng riêng virus viêm gan C cũng có khả năng gây viêm gan.
(Hình minh họa lấy từ Thông cáo báo chí giải Nobel Y học 2020)

Thông tin thêm về các nhà khoa học đạt giải Nobel Y học năm 2020:
Harvey J. Alter, sinh năm 1935 tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp trường y của Đại học Rochester và tốt nghiệp bác sỹ nội trú nội khoa tại Strong Memorial Hospital, Seattle. Alter làm việc tại Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) từ năm 1961.
Michael Houghton, sinh ra tại Vương Quốc Anh, tốt nghiệp tiến sỹ năm 1977 tại trường King’s College London. Houghton làm việc cho G. D. Searle & Company trước khi đến Chiron Corporation, Emeryville, California vào năm 1982. Ông chuyển đến Đại học Alberta, Canada năm 2010.
Charles M. Rice, sinh năm 1952 tại Sacramento, tốt nghiệp tiến sĩ năm 1981 tại the California Institute of Technology. Rice làm nghiên cứu tại Washington University School of Medicine, St Louis năm 1986. Từ năm 2001 đến nay, ông là giáo sư tại the Rockefeller University, New York.

Thông tin thêm về virus viêm gan C và bệnh viêm gan C:

Virus viêm gan C có thể gây ra cả viêm gan cấp tính và viêm gan mạn tính, có thể ở thể nhẹ kéo dài một vài tuần nhưng cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng lâu dài. Thời gian ủ bệnh (từ khi nhiễm virus đến khi khởi bệnh) có thể từ hai tuần đến sáu tháng. Sau khi nhiễm virus, khoảng 80% người bệnh sẽ không có triệu chứng. Những người có triệu chứng cấp tính có thể có biểu hiện sốt, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiểu sẫm màu, phân màu xám, đau khớp và vàng da, vàng mắt. Người bệnh tiến triển mạn tính có thể không có triệu chứng hoặc triệu chứng mờ nhạt âm thầm trong một thời gian dài cho đến khi tế bào gan bị phá hủy và xơ hóa dẫn đến xơ gan hoặc dưới nhiều cơ chế tác động của virus còn đang được nghiên cứu tế bào gan lành xuất hiện và tích lũy các đột biến gene và trở thành các tế bào ác tính, theo thời gian phát triển thành ung thư tế bào gan. Viêm gan C và viêm gan B đều có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan; nhưng nghiên cứu cho thấy viêm gan C gây xơ gan nhiều hơn và có nguy cơ gây ung thư gan cao gấp 2.5 lần so với viêm gan B. Ngược lại, viêm gan B lại có khả năng lây nhiễm cao gấp 5-10 lần viêm gan C. Viêm gan C thường lây truyền do các hành vi nguy cơ cao như tiêm chích ma túy, chăm sóc y tế thiếu an toàn trong khi viêm gan B thì thường là do lây truyền từ mẹ sang con.

TS. BS. Nguyễn Tuấn Anh, Giảng viên Đại học Y Hà Nội, Tiến sỹ Dịch tễ học Truyền nhiễm, Đại học Texas tại Houston, Hoa Kỳ.

Tài liệu tham khảo:
Alter HJ, Holland PV, Purcell RH, Lander JJ, Feinstone SM, Morrow AG, Schmidt PJ. Posttransfusion hepatitis after exclusion of commercial and hepatitis-B antigen-positive donors. Ann Intern Med. 1972; 77:691-699.
Feinstone SM, Kapikian AZ, Purcell RH, Alter HJ, Holland PV. Transfusion-associated hepatitis not due to viral hepatitis type A or B. N Engl J Med. 1975; 292:767-770.
Alter HJ, Holland PV, Morrow AG, Purcell RH, Feinstone SM, Moritsugu Y. Clinical and serological analysis of transfusion-associated hepatitis. Lancet. 1975; 2:838-841.
Alter HJ, Purcell RH, Holland PV, Popper H. Transmissible agent in non-A, non-B hepatitis. Lancet. 1978; 1:459-463.
Choo QL, Kuo G, Weiner AJ, Overby LR, Bradley DW, Houghton M. Isolation of a cDNA clone derived from a blood-borne non-A, non-B viral hepatitis genome. Science. 1989; 244:359-362.
Kuo G., Choo QL, Alter HJ, Gitnick GL, Redeker AG, Purcell RH, Miyamura T, Dienstag JL, Alter CE, Stevens CE, Tegtmeier GE, Bonino F, Colombo M, Lee WS, Kuo C., Berger K, Shuster JR, Overby LR, Bradley DW, Houghton M. An assay for circulating antibodies to a major etiologic virus of human non-A, non-B hepatitis. Science. 1989; 244:362-364.
Kolykhalov AA, Agapov EV, Blight KJ, Mihalik K, Feinstone SM, Rice CM. Transmission of hepatitis C by intrahepatic inoculation with transcribed RNA. Science. 1997; 277:570-574.
Press release: The Nobel Prize in Physiology or Medicine 2020. NobelPrize.org. Nobel Media AB 2020. Wed. 14 Oct 2020.
https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/2020/press-release/
World Health Organization. Hepatitis C fact sheet. 27 July 2020.
https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hepatitis-c
Baruch S. Blumberg – Facts. NobelPrize.org. Nobel Media AB 2020. Tue. 13 Oct 2020.
https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/1976/blumberg/facts/
US Center for Disease Control and Prevention. Hepatitis C Questions and Answers for the Public.
https://www.cdc.gov/hepatitis/hcv/cfaq.htm

Tags:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Có thể bạn quan tâm

Vingroup tài trợ 20 tỷ đồng cho nghiên cứu chống virus corona

Ngày 20/2/2020 Quỹ Đổi mới sáng tạo (VINIF), Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VINBDI

THÔNG BÁO GIA HẠN NỘP HỒ SƠ: Chương trình hỗ trợ Nghiên cứu Khoa học và công nghệ năm 2020

THÔNG BÁO GIA HẠN NỘP HỒ SƠ Chương trình hỗ trợ Nghiên cứu Khoa học và