Ngày 13/07 tới, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam; Trung tâm Hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET), Binh chủng Hóa học; Văn phòng 701; Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Trung tâm Quốc tế Đào tạo và Nghiên cứu Toán học, Viện Toán học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) tổ chức khai mạc Triển lãm “Thảm họa da cam/dioxin – 60 năm nhìn lại” nhân kỷ niệm 60 thảm họa da cam/dioxin ở Việt Nam (10/8/1961 – 10/8/2021).

🌏 Với gần 300 hình ảnh, tài liệu và hiện vật liên quan, triển lãm giới thiệu 4 chủ đề lớn sau:

1. Thảm họa và nỗi đau.

2. Khắc phục hậu quả.

3. Vòng tay nhân ái và hành trình đấu tranh đòi công lý.

4. Khát vọng vươn lên.

Đặc biệt, sự lan truyền chất độc dioxin khu vực sân bay Biên Hòa – Đồng Nai sẽ được tái hiện lại trên một mô hình sa bàn 3D. Người tham dự triển lãm có thể hiểu hơn về nỗi đau của nạn nhân chất độc da cam, tác hại của chất độc da cam/dioxin và hậu quả nặng nề, lâu dài của cuộc chiến tranh hóa học mà Mỹ gây ra ở Việt Nam.

Xin mời mọi người đến tham quan triển lãm!

——————————–

📌 Thông tin chi tiết:

⏳ Triển lãm được thực hiện bằng hai hình thức:

– Trực tiếp tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam từ ngày 13/7/2021 đến hết 12/8/2021.

– Trực tuyến trên website: http://trienlamdacam.vn/ từ ngày 13/7/2021 đến hết 31/12/2021.

🏡 Địa điểm: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam – Số 28A, Điện Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội.

(VOV5) – Chương trình Ngày Khoa học – Công nghệ với chủ đề “Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai” vừa được tổ chức nhằm hưởng ứng Ngày Khoa học – Công nghệ Việt Nam năm 2021.

Hướng ứng ngày khoa học công nghệ Việt Nam, Trung tâm Quốc tế Đào tạo và Nghiên cứu Toán học UNESCO và Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) đồng tổ chức Chương trình Ngày Khoa học – Công nghệ với chủ đề “Đổi mới sáng tạo để kiến tạo tương lai”.

Nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cùng với GS. Ngô Bảo Châu (Đại học Chicago và Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán), GS. Vũ Hà Văn (Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn), PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương (Viện Toán học và Quỹ VINIF) và nhà khoa học có uy tín trong và ngoài Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam… cũng nhiều nhà khoa học, tri thức khác tham dự chương trình.

Chương trình được tổ chức tại hội trường Hoàng Tụy, Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học &Công nghệ Việt Nam theo hình thức phát trực tuyến trên các nền tảng mạng xã hội sau: Fanpage của Viện Toán học, Fanpage của Quỹ VINIF, Fanpage của Bản tin Khoa học Công nghệ (Trung tâm Thông tin-Tư liệu)…

Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Quân đã chia sẻ tại chương trình: “Sự kiện này được tổ chức vào dịp kỉ niệm Ngày Khoa học-Công nghệ Việt Nam 18.5. Tôi quan điểm rằng, một quốc gia không có nghiên cứu cơ bản thì không có nền khoa học công nghệ thực sự”.

Chương trình bao gồm 6 bài giảng: “Từ khảo cổ đến công nghệ thực tế ảo: Trường hợp Chùa Một Cột thời Lý năm 1105” của PGS. TS. Trần Trọng Dương; “Một số bài toán hình học và giản đồ cây trong virus” của PGS.TS. Nguyễn Thế Toàn; “Công nghệ sản xuất vắc xin COVID-19: Bối cảnh Việt Nam – Thế giới trong sản xuất vắc xin và những điều cần lưu ý khi tiêm vắc xin COVID–19 tại Việt Nam” của TS. BS. Phạm Quang Thái; “Giải mã gen Việt trong kỷ nguyên Khoa học Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo”TS. Võ Sỹ Nam (Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn); “Linked Data cho dữ liệu mở trong nông nghiệp nông thôn” của PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh (Hợp tác xã Nông nghiệp Số); “Thống kê – Chiếc cầu kết nối Toán học với các Khoa học thực nghiệm” của PGS.TS. Hồ Đăng Phúc (Viện Toán học).

Với nhiều nội dung phong phú và đa dạng, chương trình đã mang tới cho những người yêu khoa học công nghệ không chỉ những kiến thức mới mẻ, lý thú mà còn rất nhiều câu chuyện vô cùng hấp dẫn.

Bài viết trên Ban Đối ngoại, Đài Tiếng nói Việt Nam.

Ngày 5/5/2021, sau 02 tháng khởi động, Chương trình Tài trợ Dự án Khoa học – Công nghệ do Quỹ Đổi mới Sáng tạo VINIF (Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata) tổ chức đã thu hút tổng cộng 211 hồ sơ đăng ký xét chọn. Đây là số lượng hồ sơ cao nhất trong 03 năm kể từ khi chương trình chính thức được triển khai.

Trong vòng 02 tháng nhận hồ sơ đề xuất, kể từ ngày 02/03/2021, Quỹ Đổi mới Sáng tạo VINIF đã thu hút hơn 200 hồ sơ là những dự án khoa học – công nghệ chất lượng cao thuộc 17 lĩnh vực, đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học (tổ chức chủ trì) và các nhà khoa học Việt Nam xuất sắc. Đây đều là những dự án nghiên cứu khoa học mũi nhọn hoặc có định hướng ứng dụng, có phương pháp tiếp cận và công nghệ hiện đại, cũng như mang tầm ảnh hưởng quốc tế. 

So với 02 mùa trước đó của chương trình, năm 2021 đánh dấu số lượng hồ sơ đề xuất cao nhất mà VINIF nhận được. Cụ thể, trong hai năm đầu tiên triển khai (2019 và 2020), chương trình thu hút lần lượt 196 và 133 hồ sơ. Sự vượt bậc cả về số lượng hồ sơ và uy tín của các cơ quan chủ trì trong năm nay đòi hỏi quá trình xét duyệt đảm bảo tối đa tính công bằng và khoa học từ Hội đồng chuyên gia xét chọn.

Theo đó, sau khi kết thúc vòng 01 (vòng Hồ sơ đề xuất), từ tháng 5 – tháng 7/2021, Quỹ VINIF sẽ thực hiện xét chọn hồ sơ dự án thông qua các hội đồng Khoa học – Công nghệ trong và ngoài nước. Tiếp đến, các dự án nổi bật, có khả năng được nhận tài trợ sẽ tham gia phiên thuyết trình và thẩm định do VINIF tổ chức diễn ra từ ngày 01/08 – 15/08/2021. Kết quả tài trợ cuối cùng dự kiến sẽ được công bố trong tháng 08/2021. Ngay sau đó, từ tháng 09/2021, các dự án được nhận tài trợ có thể chính thức ký hợp đồng và bắt đầu triển khai.

Về cơ chế tài trợ, kinh phí hỗ trợ của Quỹ VINIF đối với các dự án Khoa học – Công nghệ là 2 tỷ đến 10 tỷ VNĐ. Cơ chế tài chính linh hoạt nhằm giúp các tổ chức, đơn vị, các nhà khoa học có thể chi trả lương của thành viên tham gia dự án, nguyên, nhiên, vật liệu, các vật tư, dụng cụ, thiết bị phục vụ nghiên cứu, cũng như chi phí quản lý liên quan trực tiếp đến nghiên cứu,… 

Ngoài ra, Quỹ VINIF sẽ hỗ trợ nguồn lực cho các dự án như giới thiệu chuyên gia tư vấn, cấp quyền truy cập cơ sở dữ liệu lớn và sở hữu trí tuệ từ hệ sinh thái nghiên cứu của Tập đoàn Vingroup. VINIF cũng tạo điều kiện giới thiệu, ứng dụng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp nghiên cứu vào thực tế, tư vấn đăng ký bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và giới thiệu nguồn đầu tư để các dự án tiếp tục hoàn thiện và phát triển sau khi dự án kết thúc… Mục tiêu sau cùng là đem lại sự hỗ trợ thiết thực, hữu ích và đắc lực nhất để các nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu, tạo ra các công trình tầm vóc quốc tế, các giải pháp công nghệ có ý nghĩa đối với cộng đồng.

Dự án đến từ Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội nhận tài trợ của Quỹ VINIF trong năm 2020.

Trong 02 năm triển khai trước đó, VINIF đã tài trợ tổng cộng 260 tỷ đồng cho 48 dự án Khoa học – công nghệ, thuộc nhiều lĩnh vực như Gen và tế bào; Khoa học máy tính; Trí tuệ nhân tạo; Tự động hóa; Năng lượng tái tạo; Vật liệu thế hệ mới…Trong số đó, nhiều dự án đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn của xã hội Việt Nam và thế giới, như: nghiên cứu vaccine và hệ thống cảnh báo chống Covid-19, phát triển công nghệ in 3D, phát minh vật liệu mới,…

Năm thứ ba triển khai, với số lượng và chất lượng vượt bậc của các dự án đăng ký xét chọn, Quỹ Đổi mới Sáng tạo VINIF kỳ vọng sẽ viết tiếp những thành công kể trên, nhằm góp phần thay đổi môi trường và tác phong nghiên cứu trong nước. Từ đó, VINIF cũng hướng tới xây dựng hệ sinh thái thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và gắn kết nhà nghiên cứu, viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp. Sau cùng, nhằm thực hiện sứ mệnh kiến tạo những thay đổi tích cực và bền vững cho Việt Nam.

Nội dung chi tiết về quá trình xét chọn, cơ chế tài chính hay vấn đề sở hữu trí tuệ được cập nhật trên website chính thức của Quỹ VINIF. Cộng đồng quan tâm có thể theo dõi tại đây.

Quỹ Đổi mới sáng tạo VINIF (Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata) được tập đoàn Vingroup thành lập với chức năng hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm tạo ra những thay đổi tích cực và bền vững cho Việt Nam. Năm 2021, VINIF tiếp tục tổ chức 05 chương trình tài trợ thường niên, bao gồm: Tài trợ dự án khoa học công nghệ, Học bổng Thạc sĩ, tiến sĩ trong nước, Hợp tác tài trợ đào tạo thạc sĩ, Tổ chức và tài trợ hội nghị, hội thảo, Tổ chức các Khóa học ngắn hạn và Giáo sư thỉnh giảng. Bên cạnh đó, 02 chương trình mới được VINIF đưa vào thực hiện là Học bổng sau tiến sĩ trong nước và Lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử. Chi tiết xem thêm tại đây.

Đây là chủ đề của sự kiện do Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF – Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata, Viện Toán học và Trung tâm Thông tin Tư liệu – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp tổ chức, ngày 20/3, tại Hà Nội. Sự kiện nhằm hướng ứng Ngày Toán học quốc tế 14/3.

Tháng 11 năm 2019, tại phiên họp Đại hội đồng lần thứ 40, UNESCO đã tuyên bố chọn ngày 14/3 là Ngày Toán học Quốc tế. Năm 2021 chủ đề được chọn là “Toán học cho một thế giới tốt đẹp hơn”. 

Phát biểu tại sự kiện, GS. Phùng Hồ Hải, Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam cho biết, Ngày Toán học năm nay Ban Tổ chức hướng tới các bạn sinh viên và học sinh THPT cùng các vị phụ huynh và những ngời yêu Toán, quan tâm tới Toán học.

Trả lời cho câu hỏi Toán học hiện đang ở đâu trong đời sống? Các nhà Toán học đã chia sẻ những thông tin thú vị về việc ứng dụng Toán vào mọi mặt của đời sống. Từ mối liên hệ giữa Toán học với tự nhiên, đến sự xuất hiện của lý thuyết Toán trong những suy tư về triết học, thiết kế kiến trúc, trò chơi may rủi và ứng dụng của các bài toán vận trụ học, tối ưu hóa, nảy sinh từ thực tế đời sống sản xuất của Việt Nam. Hơn nữa, với sự phát triển của công nghệ hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh của “số hóa” và đại dịch Covid-19, Toán học càng thể hiện rõ tầm quan trọng.

Với chuỗi 4 bài giảng đại chúng, 4diễn giả đã trình bàybáo cáo tham luận tại sự kiện gồm: “Những khối đa diện đều và những bí ẩn Toán học” (PGS. Phan Thị Hà Dương, Viện Toán học và Quỹ đổi mới sáng tạo VINIF); “Vẻ đẹp của vận trù học và Toán tối ưu qua các ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam” (TS. Hà Minh Hoàng, Đại học Phenikaa); “Toán học trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19” (PGS. Nguyễn Ngọc Doanh, Đại học Thủy lợi); “Chuyện của Paul” (GS. Vũ Hà Văn, Viện Nghiên cứu dữ liệu lớn VinBigdata). 

Tọa đàm thảo luận về cơ hội nghề nghiệp, hướng phát triển cho sinh viên học Toán

Ngoài các bài nói chuyện của các nhà Toán học, trong khuôn khổ sự kiện còn diễn ra tọa đàm thảo luận về cơ hội nghề nghiệp, hướng phát triển cho sinh viên học Toán. Qua đó, sự kiện góp phần định hướng và động viên các bạn trẻ yêu Toán theo đuổi con đường Toán học, giúp họ hiểu Toán học ngày nay không chỉ là những nghiên cứu khô khan mà còn có rất nhiều ứng dụng trực tiếp vào cuộc sống và khoa học.

Theo Trang tin của Bộ KHCN

Từ năm nay, Quỹ Đổi mới sáng tạo VINIF thuộc Viện VinBigdata dự định triển khai chương trình tài trợ các dự án và hội thảo về văn hóa, lịch sử – TS Phan Thị Hà Dương, Giám đốc Quỹ, cho biết.

Để chuẩn bị cho chương trình này, mới đây, Quỹ VINIF đã tổ chức hội thảo Sách Khoa học và Cuộc sống như một dịp “để các nhà khoa học, nhà văn hóa, nghệ sỹ cùng tham gia thảo luận, trả lời câu hỏi: Làm thế nào để bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử và phát huy văn hóa đọc”, TS Hà Dương chia sẻ.

TS Phan Thị Hà Dương chia sẻ về dự định triển khai chương trình tài trợ các dự án và hội thảo về văn hóa, lịch sử của Quỹ VINIF

Có mặt tại hội thảo, ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch Hội đồng Công ty Sách Alpha Books, cho biết ông đang ấp ủ rất nhiều kế hoạch, trong đó bao gồm việc hình thành những tuyến đường gắn với văn hóa, lịch sử. Ông dẫn ra câu chuyện về dải đường dài hơn 4km băng qua giữa đô thị cổ kính mà người ta vẫn gọi là Đường mòn Tự do (Freedom Trail) ở Boston (Mỹ). Mỗi năm, hàng triệu người từ khắp nơi trên thế giới đến Boston và lần theo dải gạch đỏ nối các con đường để lắng nghe những câu chuyện đầy vinh quang của quá khứ hàng trăm năm trước.

“Chúng ta có phố đi bộ, nhưng chúng ta không gắn kết nó thành một câu chuyện, hay gắn liền với những huyền thoại của dân tộc”, ông Bình nhận định. Chính vì vậy, ông mong muốn thành lập một câu lạc bộ với sự tham gia của các nhà khoa học và văn nghệ sỹ để cùng nhau đưa ra những ý tưởng mang di sản văn hóa đến gần với mọi người hơn.

Bên cạnh đó, ông Bình ấp ủ ý tưởng về một không gian đọc cho trẻ em tại công viên Thống Nhất. Tuy nhiên, ý tưởng này cần có sự hỗ trợ của thành phố chứ tư nhân không thể đơn độc làm, bởi “chúng ta rất khó để có địa điểm tổ chức”. Vì vậy, ông dự định đề xuất thành phố giao cho một đơn vị nào đó khoảng 3.000 mét vuông đất giữa công viên Thống Nhất nhằm xây dựng một không gian đọc mở.

Còn PGS.TS Trần Trọng Dương (Viện Hán Nôm, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) gợi ý VINIF có thể xem xét hướng xây dựng cơ sở dữ liệu cho ngành nhân văn. “Cơ sở dữ liệu rất quan trọng đối với các nhà nghiên cứu thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn. Trong nhiều năm qua, tôi là người sử dụng các cơ sở dữ liệu lớn để nghiên cứu, thế nhưng đó chủ yếu là các cơ sở nước ngoài, vẫn chưa có cơ sở dữ liệu nào của Việt Nam.”

PGS.TS Trần Trọng Dương bàn luận về vấn đề cơ sở dữ liệu

Cụ thể, PGS Trần Trọng Dương chia sẻ anh thường tra cứu bằng bộ Tứ khố toàn thư, do 5.000 công nhân và 400 giáo sư đầu ngành của Trung Quốc tham gia số hóa. “Chỉ cần tra từ ‘An Nam’ hoặc ‘Việt Nam’ thì kết quả trả về là toàn bộ sử liệu của Việt Nam trong quá khứ được ghi chép trong lịch sử Trung Hoa”, anh cho biết.

Bên cạnh đó, anh còn tra cứu bằng Persee, trang scan toàn bộ các cuốn sách cổ, tạp chí cổ của Pháp. Những nhà nghiên cứu có thể tìm kiếm văn bản gốc được scan bằng các từ khóa tìm kiếm một cách dễ dàng nhờ phần mềm nhận diện văn tự. Với nguyên tắc khai thác về mặt sử liệu phải sử dụng những thông tin gốc bằng tiếng nguyên bản, những thư viện số như trên giúp cho người nghiên cứu tiếp cận những thông tin chuẩn nhất, nguyên khối nhất trong thời gian ngắn nhất. Dù thư viện của Trung Quốc và Pháp có cách lưu trữ khác nhau (lưu trữ dạng text và lưu trữ dạng văn bản) nhưng nhìn chung đều giúp nhà khoa học tra cứu dễ dàng hơn.

“Chúng tôi được thừa hưởng sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, đó là một lợi thế lớn”, anh cho biết. Anh gợi ý VINIF có thể tập trung nghiên cứu nhân văn số thức (một lĩnh vực giao thoa giữa ngành khoa học máy tính và các ngành khoa học xã hội và nhân văn), từ đó xây dựng một cơ sở dữ liệu riêng cho Việt Nam.

Lắng nghe và ghi nhận các gợi ý, đề xuất của các diễn giả, GS. Vũ Hà Văn (Giám đốc khoa học Viện VinBigdata) bày tỏ hy vọng sẽ sớm triển khai được một số dự án ngay trong năm nay.

Anh Thư

Theo Khoa học và Phát triển

Ngày 20 tháng 12 năm 2020 – vào đúng Ngày Quốc tế Đoàn kết Nhân loại, Tập đoàn Vingroup công bố ra mắt Quỹ VinFuture.

Vingroup ra mắt giải thưởng toàn cầu VINFUTURE
D.H

Đây là Quỹ được thành lập để tổ chức giải thưởng khoa học và công nghệ quốc tế đầu tiên do người Việt Nam khởi xướng và là một trong những giải thưởng thường niên có giá trị lớn nhất thế giới. Người sáng lập Giải thưởng VinFuture là ông Phạm Nhật Vượng – Chủ tịch Tập đoàn Vingroup và phu nhân là bà Phạm Thu Hương.

Sứ mệnh của Giải thưởng là “tạo ra những thay đổi tích cực trong cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người trên trái đất bằng việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ”. Vì vậy, Giải thưởng VinFuture tôn vinh những trí tuệ xuất sắc không phân biệt quốc gia, giới tính, lứa tuổi – tác giả của các nghiên cứu khoa học, các phát minh, sáng chế đổi mới công nghệ nhằm giải quyết những thách thức chung của nhân loại như: nâng cao sức khỏe và chất lượng sống, xóa nghèo, chấm dứt nạn đói, tạo cơ hội cho mọi người được hưởng thụ nền giáo dục tiến bộ, nước sạch, năng lượng tái tạo, bình đẳng, công bằng, sản xuất và thương mại có trách nhiệm, ứng phó với biến đổi khí hậu…

Về cơ cấu, hàng năm Giải thưởng VinFuture có 01 giải thưởng chính và 03 giải đặc biệt, với tổng trị giá 104,5 tỷ đồng (tương đương 4,5 triệu đô la Mỹ).

Trong đó, giải thưởng chính (VinFuture Grand Prize) trị giá 70 tỷ đồng, tương đương 3 triệu đô la Mỹ, là một trong những giải thưởng khoa học – công nghệ quy mô toàn cầu có giá trị lớn nhất cho đến nay. Giải thưởng chính sẽ được trao cho tác giả của các nghiên cứu đột phá, các sáng chế công nghệ đã được chứng minh có khả năng làm cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn và cải thiện môi trường sống bền vững cho những thế hệ tương lai.

Nhằm khuyến khích sự đa dạng, sự công bằng về cơ hội và hướng tới tương lai, Quỹ VinFuture cũng trao 3 giải đặc biệt mỗi giải trị giá 11,5 tỷ đồng mỗi năm, tương đương 500.000 đô la Mỹ, bao gồm:

• Giải VinFuture Đặc biệt cho tác giả của nghiên cứu hoặc sáng chế, phát minh đến từ các nước đang phát triển. Đây là giải thưởng toàn cầu có giá trị lớn nhất dành riêng cho các nhà khoa học đến từ những quốc gia mà điều kiện nghiên cứu khoa học cũng như cơ hội các nhà khoa học được tôn vinh ở cấp độ này còn hạn chế.

• Giải VinFuture Đặc biệt cho tác giả của nghiên cứu hoặc sáng chế, phát minh là phụ nữ. Đây là giải thưởng có giá trị lớn nhất thế giới dành riêng cho các nhà khoa học nữ.

• Giải VinFuture Đặc biệt cho tác giả nghiên cứu hoặc phát minh mang tính tiên phong trong lĩnh vực mới.

Các đề cử được giới thiệu bởi các nhà khoa học, các nhà phát minh có ảnh hưởng toàn cầu và các tổ chức nghiên cứu, giáo dục, tập đoàn công nghệ, vườn ươm đổi mới sáng tạo uy tín ở tất cả các quốc gia.

Để đảm bảo hoạt động vận hành và trao giải VinFuture, những người sáng lập cam kết tài trợ số tiền ban đầu 2.000 tỷ đồng và sẽ được tiếp tục bổ sung trong tương lai để đảm bảo việc hoạt động lâu dài cho quỹ. Đơn vị trực tiếp quản lý Giải thưởng và triển khai các hoạt động là Quỹ VinFuture, một tổ chức phi lợi nhuận độc lập. Sát cánh ở vai trò tư vấn, hỗ trợ cho các Nhà sáng lập là Hội đồng Cố vấn gồm những nhà khoa học xuất sắc người Việt Nam do Giáo sư Vũ Hà Văn, Đại học Yale và Giáo sư Nguyễn Thục Quyên, Đại học California Santa Barbara làm đồng Chủ tịch.

“Tạo nên sự thay đổi tích cực để mang tới một cuộc sống tốt hơn cho mọi người luôn là mục tiêu của chúng tôi – trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống. Các biến cố của năm 2020 đã cho thấy hơn bao giờ hết, chúng ta cần đồng hành với những trái tim nhân hậu và khối óc lỗi lạc đang nỗ lực phát huy sức mạnh của Khoa học Công nghệ, giúp thế giới vượt qua những thử thách cam go và làm cho cuộc sống của nhân loại ngày càng tốt đẹp hơn.”, Chủ tịch Tập đoàn Vingroup Phạm Nhật Vượng và phu nhân Phạm Thu Hương chia sẻ về động lực sáng lập giải thưởng.

Giải thưởng VinFuture sẽ bắt đầu nhận đề cử cho mùa trao giải đầu tiên từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2021. Danh sách những người đạt Giải thưởng VinFuture sẽ được công bố vào tháng 12 năm 2021. Lễ trao giải chính thức sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 1 năm 2022./.

Một Hội đồng Giải thưởng độc lập sẽ chịu trách nhiệm xét chọn người đạt giải từ các đề cử bao gồm các nhà khoa học, nhà phát minh uy tín quốc tế đến từ các tổ chức giáo dục, nghiên cứu và các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Những thành tựu và đóng góp trong lĩnh vực khoa học – công nghệ của các thành viên Hội đồng Giải thưởng đã được ghi nhận trên phạm vi toàn cầu, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Có thể kể tới như Giáo sư Gérard Mourou, Đại học Bách Khoa Pháp – người đạt Giải Nobel Vật lý năm 2018; Giáo sư Sir Richard Henry Friend – Giáo sư Vật lý Cavendish tại Đại học Cambridge; Giáo sư Jennifer Tour Chayes – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Microsoft, Phó hiệu trưởng Trường Máy tính, Khoa học Dữ liệu và Xã hội, Đại học California, Berkeley; Giáo sư Michael Porter, Đại học Harvard, cha đẻ học thuyết “chiến lược cạnh tranh toàn cầu”; Giáo sư Sir Kostya S. Novoselov, Đại học Manchester – người đạt giải Nobel Vật lý năm 2010 ở tuổi 36…

Theo Thanh niên

Năm 2020 đánh dấu những cột mốc quan trọng của Quỹ Đổi mới Sáng tạo VINIF trên hành trình kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho khoa học – công nghệ Việt Nam. Bên thềm năm mới 2021, hãy cùng điểm lại những con số ấn tượng mà VINIF đã đạt được trong năm vừa qua.

📍 Tháng 2/2020, VinIF tài trợ tức thời cho 03 dự án nghiên cứu ứng phó nhanh với dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (Covid-19). Chương trình nhằm đẩy mạnh các biện pháp khẩn cấp phòng chống sự lây lan của dịch bệnh, cung cấp thông tin hỗ trợ cảnh báo sớm, hướng tới chăm sóc, điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

📍 Tháng 7/2020, VINIF ký kết Hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học dữ liệu với 5 trường Đại học, Viện nghiên cứu đầu ngành tại Việt Nam. Hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học dữ liệu được Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF ký kết với 5 đơn vị đào tạo gồm: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội, Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam, Viện John von Neumann – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Quy Nhơn. Mục tiêu của hợp tác hướng tới xây dựng các chương trình đào thạc sĩ Khoa học dữ liệu, Toán ứng dụng kết hợp lý thuyết chuyên sâu và thực tiễn tiến tới đạt trình độ quốc tế.

📍 Tháng 10/2020, VINIF tài trợ 136 tỷ đồng cho 28 dự án khoa học công nghệ thuộc nhiều lĩnh vực như Gen và tế bào; Khoa học máy tính; Trí tuệ nhân tạo; Tự động hóa; Năng lượng tái tạo; Vật liệu thế hệ mới… Với suất tài trợ cao nhất lên tới 10 tỷ đồng, các nhà nghiên cứu sẽ có nguồn lực kịp thời để chi trả cho thành viên dự án, thuê chuyên gia trong và ngoài nước, mua nguyên nhiên vật liệu, trang thiết bị, thực hiện công bố quốc tế và đăng ký sáng chế…Ngoài ra, VINIF sẽ hỗ trợ nguồn lực cho các dự án như giới thiệu chuyên gia tư vấn, cấp quyền truy cập cơ sở dữ liệu lớn và sở hữu trí tuệ từ hệ sinh thái nghiên cứu của Tập đoàn Vingroup. VINIF cũng tạo điều kiện giới thiệu, ứng dụng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp nghiên cứu vào thực tế, tư vấn đăng ký bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và giới thiệu nguồn đầu tư để các dự án tiếp tục hoàn thiện và phát triển sau khi dự án kết thúc…

📍 Tháng 11/2020, VINIF trao tặng 293 suất học bổng trị giá gần 40 tỷ đồng cho các học viên, nghiên cứu sinh trong các lĩnh vực Khoa học Công nghệ (KHCN). Học bổng Tiến sĩ trị giá 150 triệu đồng/năm; học bổng Thạc sĩ trị giá 120 triệu đồng/năm được trao cho 293 sinh viên cao học, nghiên cứu sinh xuất sắc năm 2020, nhằm tạo điều kiện tối đa để các học viên, nghiên cứu sinh phát huy khả năng học tập và nghiên cứu sáng tạo.

Giải Nobel Y học 2020 được trao cho Harvey J. AlterMichael Houghton và Charles M. Rice. Ba nhà khoa học được trao giải vì đã có những đóng góp mang tính chất quyết định trong việc phát hiện virus viêm gan C và chứng minh đây là nguyên nhân chủ yếu gây viêm gan mạn tính, dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Đây là những vẫn đề sức khỏe toàn toàn cầu, đe dọa tính mạng của hàng triệu người trên toàn thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện có khoảng 71 triệu người nhiễm virus viêm gan C mạn tính trên toàn cầu và hàng năm có khoảng 400 nghìn người tử vong do biến chứng của bệnh này, chủ yếu là xơ gan và ung thư gan. Hiện đã có thuốc điều trị viêm gan C với hiệu quả lên đến 95% tuy nhiên việc tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh còn rất hạn chế. Vaccine phòng bệnh viêm gan C vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và phát triển.

Hiện đã có năm loại virus gây viêm gan được biết đến là virus viêm gan A, B, C, D, E. Hai virus viêm gan A và E lây truyền qua đường ăn uống, chỉ gây bệnh cấp tính và đa số tự khỏi và không để lại hậu quả lâu dài. Hiện đã có vaccine viêm gan A. Ba virus viêm gan B, C, D lây truyền qua đường máu, gây nhiễm trùng và tổn thương gan mạn tính, dần dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Virus viêm gan D chỉ phát hiện được trên nền bệnh nhân đã nhiễm viêm gan B và làm cho tình trạng viêm gan B nặng hơn nên trong thực hành lâm sàng không được chẩn đoán và điều trị riêng rẽ. Vaccine dự phòng viêm gan B đã được đưa vào Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam nhiều năm nay. Năm 1976, Baruch Samuel Blumberg đã nhận giải Nobel Y học cho việc phát hiện virus viêm gan B, phát triển xét nghiệm chẩn đoán cũng như vaccine phòng bệnh.

Vào thập niên 1970, Harvey J. Alter làm việc tại Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (US National Institutes of Health) nghiên cứu bệnh viêm gan ở những người bệnh được truyền máu. Việc xét nghiệm chẩn đoán viêm gan B đã giúp việc sàng lọc và loại trừ nhiễm virus viêm gan B qua đường truyền máu tuy nhiên Alter và cộng sự vẫn tỏ ra quan ngại sâu sắc vì vẫn còn một tỷ lệ lớn người bệnh vẫn bị viêm gan liên quan đến truyền máu dù đã qua sàng lọc viêm gan B. Họ đã làm thí nghiệm truyền máu của người bệnh nhiễm viêm gan mạn tính, đã loại trừ viêm gan B, sang tinh tinh và chứng mình rằng có một loại tác nhân gây viêm gan mạn tính khác chưa được biết đến, có khả năng lây truyền qua đường máu. Các nghiên cứu sau đó chứng mình rằng tác nhân này có đặc điểm của một loại virus, tạm được gọi là viêm gan “không A, không B”.

Việc phân lập được virus viêm gan C không hề đơn giản. Phải mất hơn mười năm sau, Michael Houghton, mới phân lập được trình tự gene của virus. Houghton và cộng sự đã thu thập được các mảnh DNA từ máu của tinh tinh nhiễm bệnh. Một phần lớn DNA này là của bản thân tinh tinh, nhưng nhóm nghiên cứu đã sử dụng kháng thể trong huyết thanh người bệnh để nhận diện các mảnh DNA mã hóa cho protein của virus viêm gan C.

Charles M. Rice, có những đóng góp tiếp theo trong việc chứng mình virus viêm gan C có thể là tác nhân độc lập gây nên bệnh viêm gan mạn tính. Rice và cộng sự đã dùng các kỹ thuật gene để tạo ra các biến chủng khác nhau của virus viêm gan C, và chứng minh vai trò gây bệnh của virus trên mô hình thực nghiệm ở tinh tinh bằng các bằng chứng virus trong huyết thanh và tổn thương gan đặc hiệu ở tinh tinh.

Các nghiên cứu về virus viêm gan C của các nhà khoa học đạt giải Nobel năm nay đã giúp chế tạo xét nghiệm chẩn đoán và thuốc điều trị bệnh viên gan C. Việc này giúp ích rất lớn không chỉ cho việc chẩn đoán, điều trị người bệnh nhiễm virus mà còn giúp dự phòng lây nhiễm từ những người đã nhiễm sang những người khác qua đường máu. Xét nghiệm virus viêm gan C nay đã khá phổ biến và được sử dụng để sàng lọc thường quy cho các chế phẩm máu cũng như người bệnh làm các phẫu thuật, thủ thuật nhưng thuốc điều trị viêm gan C ở Việt Nam giá còn cao và ít người bệnh được tiếp cận.

Tóm tắt những phát hiện của ba nhà khoa học đạt giải Nobel Y học 2020 theo trình tự thời gian. Các nghiên cứu mang tính phương pháp luận về viêm gan liên quan đến truyền máu của Harvey J. Alter đã chỉ ra rằng có một loại virus chưa biết tên là căn nguyên phổ biến gây viêm gan mạn tính. Michael Houghton sử dụng một chiến lược chưa có tiền lệ và đã thành công trong việc phân lập bộ gen của virus mới sau này được đặt tên là virus viêm gan C. Charles M. Rice hoàn thiệm cụm công trình nghiên cứu bằng việc cung cấp bằng chứng khoa học chứng minh rằng riêng virus viêm gan C cũng có khả năng gây viêm gan.
(Hình minh họa lấy từ Thông cáo báo chí giải Nobel Y học 2020)

Thông tin thêm về các nhà khoa học đạt giải Nobel Y học năm 2020:
Harvey J. Alter, sinh năm 1935 tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp trường y của Đại học Rochester và tốt nghiệp bác sỹ nội trú nội khoa tại Strong Memorial Hospital, Seattle. Alter làm việc tại Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) từ năm 1961.
Michael Houghton, sinh ra tại Vương Quốc Anh, tốt nghiệp tiến sỹ năm 1977 tại trường King’s College London. Houghton làm việc cho G. D. Searle & Company trước khi đến Chiron Corporation, Emeryville, California vào năm 1982. Ông chuyển đến Đại học Alberta, Canada năm 2010.
Charles M. Rice, sinh năm 1952 tại Sacramento, tốt nghiệp tiến sĩ năm 1981 tại the California Institute of Technology. Rice làm nghiên cứu tại Washington University School of Medicine, St Louis năm 1986. Từ năm 2001 đến nay, ông là giáo sư tại the Rockefeller University, New York.

Thông tin thêm về virus viêm gan C và bệnh viêm gan C:

Virus viêm gan C có thể gây ra cả viêm gan cấp tính và viêm gan mạn tính, có thể ở thể nhẹ kéo dài một vài tuần nhưng cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng lâu dài. Thời gian ủ bệnh (từ khi nhiễm virus đến khi khởi bệnh) có thể từ hai tuần đến sáu tháng. Sau khi nhiễm virus, khoảng 80% người bệnh sẽ không có triệu chứng. Những người có triệu chứng cấp tính có thể có biểu hiện sốt, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiểu sẫm màu, phân màu xám, đau khớp và vàng da, vàng mắt. Người bệnh tiến triển mạn tính có thể không có triệu chứng hoặc triệu chứng mờ nhạt âm thầm trong một thời gian dài cho đến khi tế bào gan bị phá hủy và xơ hóa dẫn đến xơ gan hoặc dưới nhiều cơ chế tác động của virus còn đang được nghiên cứu tế bào gan lành xuất hiện và tích lũy các đột biến gene và trở thành các tế bào ác tính, theo thời gian phát triển thành ung thư tế bào gan. Viêm gan C và viêm gan B đều có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan; nhưng nghiên cứu cho thấy viêm gan C gây xơ gan nhiều hơn và có nguy cơ gây ung thư gan cao gấp 2.5 lần so với viêm gan B. Ngược lại, viêm gan B lại có khả năng lây nhiễm cao gấp 5-10 lần viêm gan C. Viêm gan C thường lây truyền do các hành vi nguy cơ cao như tiêm chích ma túy, chăm sóc y tế thiếu an toàn trong khi viêm gan B thì thường là do lây truyền từ mẹ sang con.

TS. BS. Nguyễn Tuấn Anh, Giảng viên Đại học Y Hà Nội, Tiến sỹ Dịch tễ học Truyền nhiễm, Đại học Texas tại Houston, Hoa Kỳ.

Tài liệu tham khảo:
Alter HJ, Holland PV, Purcell RH, Lander JJ, Feinstone SM, Morrow AG, Schmidt PJ. Posttransfusion hepatitis after exclusion of commercial and hepatitis-B antigen-positive donors. Ann Intern Med. 1972; 77:691-699.
Feinstone SM, Kapikian AZ, Purcell RH, Alter HJ, Holland PV. Transfusion-associated hepatitis not due to viral hepatitis type A or B. N Engl J Med. 1975; 292:767-770.
Alter HJ, Holland PV, Morrow AG, Purcell RH, Feinstone SM, Moritsugu Y. Clinical and serological analysis of transfusion-associated hepatitis. Lancet. 1975; 2:838-841.
Alter HJ, Purcell RH, Holland PV, Popper H. Transmissible agent in non-A, non-B hepatitis. Lancet. 1978; 1:459-463.
Choo QL, Kuo G, Weiner AJ, Overby LR, Bradley DW, Houghton M. Isolation of a cDNA clone derived from a blood-borne non-A, non-B viral hepatitis genome. Science. 1989; 244:359-362.
Kuo G., Choo QL, Alter HJ, Gitnick GL, Redeker AG, Purcell RH, Miyamura T, Dienstag JL, Alter CE, Stevens CE, Tegtmeier GE, Bonino F, Colombo M, Lee WS, Kuo C., Berger K, Shuster JR, Overby LR, Bradley DW, Houghton M. An assay for circulating antibodies to a major etiologic virus of human non-A, non-B hepatitis. Science. 1989; 244:362-364.
Kolykhalov AA, Agapov EV, Blight KJ, Mihalik K, Feinstone SM, Rice CM. Transmission of hepatitis C by intrahepatic inoculation with transcribed RNA. Science. 1997; 277:570-574.
Press release: The Nobel Prize in Physiology or Medicine 2020. NobelPrize.org. Nobel Media AB 2020. Wed. 14 Oct 2020.
https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/2020/press-release/
World Health Organization. Hepatitis C fact sheet. 27 July 2020.
https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hepatitis-c
Baruch S. Blumberg – Facts. NobelPrize.org. Nobel Media AB 2020. Tue. 13 Oct 2020.
https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/1976/blumberg/facts/
US Center for Disease Control and Prevention. Hepatitis C Questions and Answers for the Public.
https://www.cdc.gov/hepatitis/hcv/cfaq.htm

Là một quỹ tư nhân mới ra đời, Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) đã mạnh dạn đặt mục tiêu tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu và đào tạo với cam kết tài trợ lâu dài và đủ mạnh, thậm chí chấp nhận rủi ro. Để làm được điều đó, VINIF cần tới một cơ chế vừa đủ chặt chẽ vừa linh hoạt cho phép Quỹ liên tục cập nhật để “chọn mặt gửi vàng” vào những nhóm nghiên cứu thực sự có tiềm năng.

Các nhà nghiên cứu Vabiotech đang tiến hành lấy mẫu máu chuột để đánh giá kháng thể đáp ứng miễn dịch sau tiêm vaccine. Vabiotech là một trong những đơn vị đã nhận được tài trợ của VINIF cho nghiên cứu về vaccine phòng COVID-19. Ảnh: nhandan.

Ra mắt từ tháng 8/2018 và được cộng đồng khoa học công nghệ rất quan tâm nhưng VINIF chỉ thực sự được đông đảo xã hội chú ý khi tài trợ khẩn cấp cho ba dự án về Covid vào tháng 3/2020 trong đó có một dự án đồng tài trợ cùng Bộ Khoa học và Công nghệ. Cú bắt tay giữa một đơn vị quản lý nhà nước về khoa học và một quỹ tư nhân để cùng tài trợ cho các nhóm nghiên cứu như vậy là điều hết sức mới mẻ của Việt Nam.

Đề cập đến đợt tài trợ đột xuất này, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương, Giám đốc điều hành VINIF, cho biết, sau khi trao đổi và được Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc hoan nghênh ý tưởng đồng tài trợ, chỉ trong vòng có mấy chục tiếng đồng hồ, một văn bản thỏa thuận với rất nhiều điều khoản mới như điều kiện hợp tác, quy trình rót một khoản kinh phí rất lớn (cả hai bên tài trợ 16 tỉ đồng), cách phối hợp đánh giá nghiệm thu đề tài… đã được hình thành. Vậy làm thế nào để một quỹ vừa mới thành lập hai năm đã có đủ kinh nghiệm để nhanh chóng tài trợ đột xuất, khẩn cấp theo cách này? “Bí quyết” để VINIF làm được việc này dựa vào hai từ “chặt chẽ và linh hoạt” trong cơ chế hoạt động, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương cho biết.

Quản lý chặt chẽ và linh hoạt

Sau hai năm hoạt động, VINIF đã tổ chức nhiều chương trình và hoạt động hỗ trợ, tài trợ cho viện nghiên cứu, trường đại học, nhóm nghiên cứu trẻ và các cá nhân, từ chương trình hỗ trợ nghiên cứu thường niên, học bổng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong nước cho đến cả các tài trợ nhỏ, ngắn hạn hơn như các hội thảo, tọa đàm và diễn đàn khoa học, cố vấn khoa học.

Để đảm bảo không hành chính hóa thủ tục và tài trợ một cách linh hoạt nhất cho các đề tài, VINIF không đưa ra một mốc thời gian cứng về tiến độ mà chỉ gợi ý chia ra làm ba giai đoạn, sau đó các chủ nhiệm đề tài tự xác định mỗi giai đoạn bao nhiêu tháng dựa trên đặc thù đề tài của mình.

Các khoản tài trợ cho các dự án và hoạt động nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đa dạng khác nhau như y dược học, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, robotics, tự động hóa, công nghệ nano, năng lượng tái tạo, nguyên liệu thế hệ mới… đều ở dạng “tài trợ mồi”, quy mô trung bình 5 tỉ và cao nhất có thể lên tới 10 tỉ/dự án.

Mục đích của VINIF, theo Giáo sư Vũ Hà Văn – Giám đốc Khoa học Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata là góp phần tạo điều kiện cho “các nhóm nghiên cứu có được một khoản tiền đủ lớn để nghiên cứu được các sản phẩm mang tầm quốc tế” và để sau đó có được nền móng tốt tiếp tục con đường nghiên cứu phía trước. Trên thực tế, mức tài trợ của VINIF cũng tương đương với mức tài trợ của Mỹ cho một công trình nghiên cứu khoảng ba năm.

Để chọn được những nhóm nghiên cứu thực sự mạnh, có tiềm năng thực hiện thành công những nhiệm vụ lớn như vậy, VINIF đòi hỏi một quá trình xét duyệt hồ sơ chặt chẽ, đặc biệt là hội đồng phản biện gần như phải “đo ni đóng giày” cho từng đề tài chứ không thành lập một hội đồng chung. “Quá trình tìm người phản biện rất công phu vì các hồ sơ đến từ rất nhiều ngành khác nhau mà không phải cứ người đúng chuyên ngành là đã có thể phản biện được. Hội đồng khoa học đóng vai trò tiên quyết cho sự thành công của việc chọn lựa đề tài nhằm đảm bảo tính khoa học, công bằng và minh bạch”, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương cho biết.

Về quy trình, Quỹ VINIF đang áp dụng việc thực hiện ba vòng phản biện cho tất cả các đề xuất tài trợ: Ở đợt phản biện đầu tiên, mỗi hồ sơ sẽ được ba nhà khoa học trong nước đọc; Vòng hai gồm 2 nhà khoa học, trong đó có nhà khoa học nước ngoài tiếp tục phản biện (ở vòng này các nhà khoa học sẽ đánh giá cả mức độ phù hợp trong đề xuất tài chính của dự án); Ở vòng cuối cùng, các chủ nhiệm dự án trực tiếp trình bày về dự án của mình trước một hội đồng 10 thành viên. Như vậy với 133 hồ sơ nộp vào năm 2020, qua ba vòng phản biện, đã có tới gần 500 lượt đọc và cần tới hơn 50 nhà khoa học tham gia các hội đồng để cuối cùng Quỹ đã chọn được 22 dự án khoa học công nghệ hướng ứng dụng (ngoài ra còn có 6 dự án công nghệ ứng dụng đã được xét duyệt trước đó).

Theo thông lệ phổ biến trong quản lý tài trợ khoa học, VINIF không rót kinh phí tài trợ một lần mà theo từng giai đoạn đăng ký của chủ nhiệm đề tài. Hết mỗi giai đoạn, các đề tài sẽ được hội đồng nghiệm thu tiến độ rồi mới nhận tiếp kinh phí của giai đoạn tiếp theo. Để đảm bảo không hành chính hóa thủ tục và tài trợ một cách linh hoạt nhất cho các đề tài, VINIF không đưa ra một mốc thời gian cứng về tiến độ mà chỉ gợi ý chia ra làm ba giai đoạn, sau đó các chủ nhiệm đề tài tự xác định mỗi giai đoạn bao nhiêu tháng dựa trên đặc thù đề tài của mình.

Từ hiện trạng thực tế mặt bằng công bố quốc tế ở Việt Nam đang tập trung vào số lượng nhiều hơn là hướng tới chất lượng ở các tạp chí top đầu, các nhà khoa học cũng khuyến nghị VINIF cần thảo luận xem có nên đặt ra tiêu chí về số lượng bài báo cần đạt hay không.

Nhờ linh hoạt trong những công việc quản lý thường xuyên như vậy nên VINIF ứng phó rất nhanh chóng với những trường hợp tài trợ đột xuất như các đề tài nghiên cứu về COVID-19 kể trên. Thay vì rót kinh phí cho các đề tài COVID-19 theo ba đợt với định mức 30%-30%-30% và cuối cùng là 10% khi nghiệm thu kết quả thì VINIF rót kinh phí cho các đề tài COVID-19 theo tỉ lệ 70%-30% để các nhóm nghiên cứu có ngay nguồn lực cho các nghiên cứu thực nghiệm.

Học hỏi và rút kinh nghiệm

Đánh giá chất lượng hồ sơ đầu vào và sản phẩm đầu ra là vấn đề quan trọng của các quỹ đầu tư cho khoa học. VINIF cũng không nằm ngoài phạm vi đó. Đây là lý do vì sao Quỹ dành nhiều thời gian và công sức vào mục tiêu xây dựng một danh mục tạp chí uy tín để phục vụ cho việc đánh giá hồ sơ và nghiệm thu tài trợ. Và cũng bởi có một thực tế khác là “các hội đồng không thể bao gồm hết các chuyên gia, các chuyên gia không đủ mạnh để đánh giá hết các đề tài”, theo nhận xét của giáo sư Ngô Việt Trung, Chủ tịch hội đồng ngành Toán Quỹ Phát triển khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED), nhận xét trong Hội thảo Nâng cao chất lượng công bố khoa học do VINIF tổ chức ngày 7/10 vừa qua.

Tuy nhiên để xây dựng được một danh mục tạp chí uy tín như mong muốn không đơn giản vì hiện nay có hiện tượng các tạp chí, kể cả thuộc Q1 nằm trong cơ sở dữ liệu của Web of Science – ISI hoặc Scimago có chất lượng rất chênh lệch. Do đó, chọn được một danh mục tạp chí phù hợp, nhận được sự chấp thuận của cộng đồng không chỉ là câu hỏi đặt ra đối với riêng VINIF mà là câu hỏi chung với bất kỳ một quỹ tài trợ nghiên cứu nào.

Trong phiên thảo luận, các chuyên gia đều thống nhất với mức hỗ trợ tài chính mà Quỹ VINIF đang hỗ trợ các dự án, việc thu hẹp danh mục tạp chí được nghiệm thu, đảm bảo chất lượng, uy tín là điều cần thiết phải thực hiện. Tuy nhiên, không nên chỉ dựa vào một danh sách tạp chí cố định, mà cần có một tiêu chí cụ thể và rõ ràng, kết hợp với đánh giá của Hội đồng xét duyệt, đặc biệt khi Quỹ VINIF đang tài trợ các dự án đa ngành, liên ngành, và cần sự đa dạng hoá.

Các nhà khoa học thuộc các hội đồng khoa học chuyên ngành đều tư vấn VINIF nên học theo kinh nghiệm xây dựng danh mục tạp chí của các quỹ đi trước, đã được thảo luận nhiều và đang được thống nhất sử dụng. “Nếu tự nhiên VINIF đưa ra danh mục riêng thì chắc khó đạt được sự đồng thuận trong cộng đồng khoa học”, theo PGS. TS Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam).

Lý do thứ hai để VINIF nên vận dụng danh mục của các quỹ đi trước vì quá trình rà soát các tạp chí từ đầu và xây dựng một danh sách riêng sẽ cần rất nhiều thời gian và nguồn lực con người, mà VINIF khó lòng đảm đương. Với kinh nghiệm cá nhân, giáo sư Ngô Việt Trung cho biết, các hội đồng khoa học cũng phải liên tục thảo luận và bàn bạc rất nhiều lần mới đưa ra được những tiêu chí về danh mục tạp chí uy tín để xét duyệt. Ví dụ, trong mười năm qua, hội đồng khoa học các nhiệm kỳ của Quỹ NAFOSTED (mỗi nhiệm kỳ 2 năm) cũng liên tục thảo luận để hoàn thiện, đưa ra các danh mục ngày càng phù hợp hơn. Qua gần 10 năm thì cách làm này cho thấy hiệu quả tốt.

Giáo sư Ngô Việt Trung cũng tư vấn, để xây dựng một danh mục chất lượng cao thì không nên để một nhóm nhà khoa học xây dựng, vì khi đó sẽ dẫn tới tình trạng bị tính chủ quan của từng người ảnh hưởng. VINIF nên dựa vào tiêu chí định lượng cứng: bắt đầu xuất phát từ cơ sở dữ liệu được cộng đồng thống nhất, ví dụ như danh mục Q1 của Web of Science hoặc Scimago, tiếp tục thu hẹp lại bằng việc chọn tốp đầu của Q1, sau đó cùng thảo luận với các chuyên gia uy tín của từng ngành để chốt danh mục.

Song song với đó, đặt mục tiêu nâng cao chất lượng công bố quốc tế ở Việt Nam, các nhà khoa học khuyến nghị VINIF cần thảo luận xem có đặt ra tiêu chí về số lượng bài báo cần đạt hay không? Nếu nhóm nghiên cứu phải chia ra đăng cho đủ số lượng thì chất lượng sẽ không bằng so với việc nhóm chuyên tâm, có thời gian dài hơi cho nghiên cứu và công bố, GS.TS Đặng Đức Anh, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương nêu.

Mục tiêu của Quỹ VINIF là thông qua việc tài trợ cho các dự án rất cụ thể để nhằm giới thiệu, hiện thực hóa một số mô hình phổ biến hữu dụng cho quá trình phát triển ở các nước, rất cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam nhưng người Việt đa phần chưa có những hình dung về các mô hình đó. Ví dụ như mô hình doanh nghiệp hỗ trợ nghiên cứu của các trường đại học đã rất phổ biến ở các nước phương Tây nhưng Việt Nam chưa có và cần phải được thúc đẩy. Một mô hình khác nữa là học tiến sĩ hoặc thạc sĩ toàn thời gian vẫn còn xa lạ ở Việt Nam thì các chương trình hỗ trợ học bổng, với số tiền vừa phải (khoảng hơn 10 triệu mỗi tháng) vừa đủ cho cuộc sống đơn giản của nghiên cứu sinh nhưng họ không phải lo về cuộc sống, mà dành thời gian để nghiên cứu. Đó là những mô hình nên trở nên phổ biến ở Việt Nam. Những gì chúng tôi làm chỉ có thể tác động một phần nhỏ cho cộng đồng những người làm nghiên cứu ở Việt Nam, nhưng nếu như nó tạo ra được cảm hứng, được nhiều người ủng hộ, nhiều người cùng làm, các doanh nghiệp khác cũng thúc đẩy thì có thể sẽ tạo ra thay đổi trong cả cộng đồng nghiên cứu và xã hội nói chung. GS. Vũ Hà Văn, Giám đốc Khoa học Viện Nghiên cứu dữ liệu lớn và Quỹ VINIF

Đặt thêm vấn đề về thời gian nghiệm thu, TS Nguyễn Việt Cường, Trường Đại học Kinh tế quốc dân nêu ra điểm chưa hợp lý trong nghiệm thu đề tài hiện nay “với quy định phải kiểm toán hằng năm, các chủ nhiệm đề tài nhà nước phải bằng mọi cách xuất bản trong thời hạn quy định (thường là 2 năm – PV), trong khi các tạp chí tốp đầu có thể mất tới hai năm mới đăng bài”. Do đó anh đề nghị VINIF có thể khắc phục điều đó bằng cách “linh hoạt hơn, không chỉ là hết dự án là nghiệm thu, mà hội đồng có thể đánh giá chất lượng và khả năng công bố trên các tạp chí top đầu tới đâu để gia hạn cho nhóm nghiên cứu”.

Theo Tia Sáng

Ngành công nghiệp vắc xin toàn cầu bị chi phối bởi những tên tuổi lớn như Pfizer, GlaxoSmithKline (GSK) hay Sanofi.

TS. Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (Vabiotech), Bộ Y tế, tin tưởng Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia trên thế giới sớm sản xuất thành công vắc xin.

Đề tài nghiên cứu, sản xuất vắc xin phòng coronavirus (Covid-19) vừa được Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF (thuộc Tập đoàn Vingroup) tài trợ triển khai, hứa hẹn đưa Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia trên thế giới sớm sản xuất thành công vắc xin.

TS. Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (Vabiotech), Bộ Y tế, tiết lộ về đề tài nghiên cứu được đánh giá là chưa từng có tiền lệ của Công ty. Đó là phát triển vắc xin chống lại chủng mới của coronavirus (Covid-19), mầm bệnh đang gieo rắc nỗi kinh hoàng trên khắp thế giới và đã cướp đi sinh mạng của hơn 2.000 người.

Dự án đầy tham vọng

Ngành công nghiệp vắc xin toàn cầu bị chi phối bởi những tên tuổi lớn như Pfizer, GlaxoSmithKline (GSK) hay Sanofi. Nhưng đến nay các tập đoàn hàng đầu này vẫn chưa đề cập ý định làm vắc xin phòng Covid-19. Vì sao Công ty lại tham gia vào việc nghiên cứu này?

Việc nghiên cứu, sản xuất vắc xin trước hết giúp chúng ta chủ động về nguồn cung, nhất là để phòng ngừa hay chấm dứt một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng đặc biệt nghiêm trọng như Covid-19. Thứ hai, mặc dù không ai mong muốn ở góc độ khoa học, điều kiện dịch bệnh là cơ hội giúp khẳng định năng lực nghiên cứu, vị thế của khoa học nói chung và y tế dự phòng của Việt Nam nói riêng.

Chúng ta có thể làm được, làm tốt thậm chí là đi đầu trong việc đóng góp cho thế giới. Bằng chứng là Việt Nam hiện là 1 trong 37 nước trên thế giới đạt Tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất vắc xin, tức vắc xin sản xuất ra có thể xuất khẩu.

Được biết đã có ít nhất 3 công ty được Liên minh sáng kiến đối phó với dịch bệnh (CEPI) tài trợ để phát triển vắc xin phòng Covid-19. Họ cũng tuyên bố có thể thử nghiệm trên động vật trong vài tháng tới. Công nghệ nghiên cứu mà Công ty sử dụng có gì khác biệt?

2 trong số 3 dự án mà CEPI tài trợ sử dụng công nghệ tổng hợp gen, dựa trên giải mã gen Covid-19 của các nhà khoa học Trung Quốc nên có thể đưa ra thử nghiệm trên động vật khá nhanh. Nhưng giai đoạn thử nghiệm và đánh giá trên người lại mất nhiều thời gian hơn và cũng không biết đến bao giờ mới thương mại hóa được.

Trên thế giới đến nay cũng chưa từng có vắc xin nào thương mại hóa được theo các công nghệ này. Các nhà khoa học cũng cảnh báo về nhược điểm của công nghệ này là không tạo được đáp ứng miễn dịch cao.

Còn loại vắc xin mà chúng tôi hướng đến là loại sử dụng protein. Công nghệ này tuy khó khăn ở bước đầu để tạo ra protein đáp ứng miễn dịch nhưng các bước sau thì sẽ đi nhanh hơn so với công nghệ tổng hợp gen.

Việc này giúp rút ngắn thời gian phát triển và sản xuất vắc xin, dễ nâng quy mô sản xuất và giảm giá thành, đáp ứng tốt nhu cầu về vắc xin trong trường hợp khẩn cấp khi xuất hiện các tác nhân gây bệnh mới, nguy hiểm như Covid-19. Tuy nhiên, do yêu cầu nghiêm ngặt trong quy trình phát triển vắc xin nên dù nhanh nhất và thuận lợi nhất thì cũng phải mất 12 tháng mới có kết quả.

Nếu thành công thì đề tài lần này sẽ có ý nghĩa như thế nào thưa Tiến sĩ?

Trong số rất nhiều chủng coronavirus có khả năng lây nhiễm ở người, đến nay mới chỉ có 3 chủng được đặt tên riêng vì dịch bệnh và hậu quả quy mô lớn mà chúng gây ra. Đó là SARS-CoV gây ra dịch năm 2003, MERS-CoV gây ra dịch năm 2012 và lần này là Covid-19. Cả 2 đại dịch lần trước, đáng tiếc là thế giới đều chưa có vắc xin nào được thương mại hóa. Bởi thế lần này nếu sản xuất thương mại được vắc xin phòng Covid-19 thì sẽ là một bước tiến rất lớn.

Chúng ta không thể dự báo được trong tương lai có thể có thêm chủng coronavirus nào mới xuất hiện và gây đại dịch ở người. Nếu tình huống xấu xảy ra, khi đã có trong tay công nghệ vắc xin rồi, lúc đó chỉ cần “lắp ráp” phần gen của chủng virus mới vào là rất nhanh sẽ có vắc xin mới. Nói cách khác, lần này nếu thành công thì sẽ là nền tảng để phát triển các vắc xin phòng đại dịch sau này chứ không chỉ riêng phòng coronavirus.

Tốn kém và rủi ro, nhưng cần làm

Phát triển vắc xin được xem là chương trình vô cùng tốn kém và rủi ro mà ngay cả các hãng dược phẩm hàng đầu thế giới cũng phải thận trọng. Sẽ ra sao nếu đây cũng là một dự án rủi ro như thế?

Để tạo ra được một loại vắc xin mới cần phải trải qua rất nhiều giai đoạn nhằm đảm bảo tính an toàn cũng như hiệu quả hoạt động của vắc xin. Nhưng không phải khi nào các dự án nghiên cứu cũng thành công. Có những loại vắc xin mà cả thế giới đều muốn có, như vắc xin phòng HIV, nhưng sau nhiều chục năm vẫn chưa thể tạo ra.

Bên cạnh đó là những nguy cơ như khi đi vào sản xuất thương mại thì dịch bệnh đã qua hoặc vắc xin bị rút phép, ngừng lưu hành vì tác dụng phụ… Lúc đó, doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại rất lớn. Trong khi, kinh phí để có được một loại vắc xin là vô cùng lớn. Đơn cử, phải mất cả triệu USD chỉ riêng cho khâu thử nghiệm trên người. Vì vậy, ngay cả các hãng dược lớn họ không phải lúc nào cũng sẵn sàng tham gia cuộc chơi.

Rủi ro và tốn kém là thế, song chúng tôi cho rằng nếu không bước đi đầu tiên thì sẽ không bao giờ đến đích cả. Việc gì cũng vậy luôn cần có người tiên phong.

Thông thường với các dự án nghiên cứu, sản phẩm đầu ra là yếu tố bắt buộc phải có để dự án được đầu tư hoặc cấp kinh phí. Vậy với dự án này thì sao thưa Tiến sĩ?

Đúng thế. Trên thực tế nhiều đề tài đã phải trả lại tiền khi không thành công, điều này gây áp lực lớn cho việc nghiên cứu khoa học. May mắn là với đề tài lần này, chúng tôi được Quỹ VinIF của tập đoàn Vingroup tài trợ.

Điều đáng nói, chúng tôi không chịu bất kỳ ràng buộc gì từ phía Quỹ VinIF. Tất nhiên, khi đã triển khai, cả hai bên đều mong muốn đề tài sẽ thành công nhưng quan trọng hơn cả là chúng tôi đều có chung mong muốn tạo ra một sản phẩm vắc xin cụ thể phục vụ cộng đồng.

Ở khía cạnh này, tôi nhìn thấy sự tương đồng của Quỹ VinIF và Quỹ Bill and Melinda Gates của vợ chồng tỷ phú người Mỹ chuyên tài trợ cho các chương trình, dự án với mục đích nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và giảm đói nghèo trên toàn cầu.

Chúng tôi hy vọng rằng, thời gian tới sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp như Vingroup, sẵn sàng chung tay cùng Nhà nước và các nhà khoa học trong các hoạt động nghiên cứu vì cộng đồng, an sinh xã hội.

Xin cảm ơn Tiến sĩ và chúc đề tài thành công!

Nguồn: http://khampha.vn/thong-tin-doanh-nghiep/du-an-nghien-cuu-vac-xin-phong-covid-19-do-vinif-tai-tro-co-the-co-ket-qua-trong-12-thang-toi-c41a757145.html