Năm 2020 đánh dấu những cột mốc quan trọng của Quỹ Đổi mới Sáng tạo VINIF trên hành trình kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho khoa học – công nghệ Việt Nam. Bên thềm năm mới 2021, hãy cùng điểm lại những con số ấn tượng mà VINIF đã đạt được trong năm vừa qua.

📍 Tháng 2/2020, VinIF tài trợ tức thời cho 03 dự án nghiên cứu ứng phó nhanh với dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (Covid-19). Chương trình nhằm đẩy mạnh các biện pháp khẩn cấp phòng chống sự lây lan của dịch bệnh, cung cấp thông tin hỗ trợ cảnh báo sớm, hướng tới chăm sóc, điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

📍 Tháng 7/2020, VINIF ký kết Hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học dữ liệu với 5 trường Đại học, Viện nghiên cứu đầu ngành tại Việt Nam. Hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học dữ liệu được Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF ký kết với 5 đơn vị đào tạo gồm: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội, Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam, Viện John von Neumann – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Quy Nhơn. Mục tiêu của hợp tác hướng tới xây dựng các chương trình đào thạc sĩ Khoa học dữ liệu, Toán ứng dụng kết hợp lý thuyết chuyên sâu và thực tiễn tiến tới đạt trình độ quốc tế.

📍 Tháng 10/2020, VINIF tài trợ 136 tỷ đồng cho 28 dự án khoa học công nghệ thuộc nhiều lĩnh vực như Gen và tế bào; Khoa học máy tính; Trí tuệ nhân tạo; Tự động hóa; Năng lượng tái tạo; Vật liệu thế hệ mới… Với suất tài trợ cao nhất lên tới 10 tỷ đồng, các nhà nghiên cứu sẽ có nguồn lực kịp thời để chi trả cho thành viên dự án, thuê chuyên gia trong và ngoài nước, mua nguyên nhiên vật liệu, trang thiết bị, thực hiện công bố quốc tế và đăng ký sáng chế…Ngoài ra, VINIF sẽ hỗ trợ nguồn lực cho các dự án như giới thiệu chuyên gia tư vấn, cấp quyền truy cập cơ sở dữ liệu lớn và sở hữu trí tuệ từ hệ sinh thái nghiên cứu của Tập đoàn Vingroup. VINIF cũng tạo điều kiện giới thiệu, ứng dụng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp nghiên cứu vào thực tế, tư vấn đăng ký bảo hộ bằng độc quyền sáng chế và giới thiệu nguồn đầu tư để các dự án tiếp tục hoàn thiện và phát triển sau khi dự án kết thúc…

📍 Tháng 11/2020, VINIF trao tặng 293 suất học bổng trị giá gần 40 tỷ đồng cho các học viên, nghiên cứu sinh trong các lĩnh vực Khoa học Công nghệ (KHCN). Học bổng Tiến sĩ trị giá 150 triệu đồng/năm; học bổng Thạc sĩ trị giá 120 triệu đồng/năm được trao cho 293 sinh viên cao học, nghiên cứu sinh xuất sắc năm 2020, nhằm tạo điều kiện tối đa để các học viên, nghiên cứu sinh phát huy khả năng học tập và nghiên cứu sáng tạo.

Ngày 20 tháng 12 năm 2020 – vào đúng Ngày Quốc tế Đoàn kết Nhân loại, Tập đoàn Vingroup công bố ra mắt Quỹ VinFuture.

Vingroup ra mắt giải thưởng toàn cầu VINFUTURE
D.H

Đây là Quỹ được thành lập để tổ chức giải thưởng khoa học và công nghệ quốc tế đầu tiên do người Việt Nam khởi xướng và là một trong những giải thưởng thường niên có giá trị lớn nhất thế giới. Người sáng lập Giải thưởng VinFuture là ông Phạm Nhật Vượng – Chủ tịch Tập đoàn Vingroup và phu nhân là bà Phạm Thu Hương.

Sứ mệnh của Giải thưởng là “tạo ra những thay đổi tích cực trong cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người trên trái đất bằng việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ”. Vì vậy, Giải thưởng VinFuture tôn vinh những trí tuệ xuất sắc không phân biệt quốc gia, giới tính, lứa tuổi – tác giả của các nghiên cứu khoa học, các phát minh, sáng chế đổi mới công nghệ nhằm giải quyết những thách thức chung của nhân loại như: nâng cao sức khỏe và chất lượng sống, xóa nghèo, chấm dứt nạn đói, tạo cơ hội cho mọi người được hưởng thụ nền giáo dục tiến bộ, nước sạch, năng lượng tái tạo, bình đẳng, công bằng, sản xuất và thương mại có trách nhiệm, ứng phó với biến đổi khí hậu…

Về cơ cấu, hàng năm Giải thưởng VinFuture có 01 giải thưởng chính và 03 giải đặc biệt, với tổng trị giá 104,5 tỷ đồng (tương đương 4,5 triệu đô la Mỹ).

Trong đó, giải thưởng chính (VinFuture Grand Prize) trị giá 70 tỷ đồng, tương đương 3 triệu đô la Mỹ, là một trong những giải thưởng khoa học – công nghệ quy mô toàn cầu có giá trị lớn nhất cho đến nay. Giải thưởng chính sẽ được trao cho tác giả của các nghiên cứu đột phá, các sáng chế công nghệ đã được chứng minh có khả năng làm cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn và cải thiện môi trường sống bền vững cho những thế hệ tương lai.

Nhằm khuyến khích sự đa dạng, sự công bằng về cơ hội và hướng tới tương lai, Quỹ VinFuture cũng trao 3 giải đặc biệt mỗi giải trị giá 11,5 tỷ đồng mỗi năm, tương đương 500.000 đô la Mỹ, bao gồm:

• Giải VinFuture Đặc biệt cho tác giả của nghiên cứu hoặc sáng chế, phát minh đến từ các nước đang phát triển. Đây là giải thưởng toàn cầu có giá trị lớn nhất dành riêng cho các nhà khoa học đến từ những quốc gia mà điều kiện nghiên cứu khoa học cũng như cơ hội các nhà khoa học được tôn vinh ở cấp độ này còn hạn chế.

• Giải VinFuture Đặc biệt cho tác giả của nghiên cứu hoặc sáng chế, phát minh là phụ nữ. Đây là giải thưởng có giá trị lớn nhất thế giới dành riêng cho các nhà khoa học nữ.

• Giải VinFuture Đặc biệt cho tác giả nghiên cứu hoặc phát minh mang tính tiên phong trong lĩnh vực mới.

Các đề cử được giới thiệu bởi các nhà khoa học, các nhà phát minh có ảnh hưởng toàn cầu và các tổ chức nghiên cứu, giáo dục, tập đoàn công nghệ, vườn ươm đổi mới sáng tạo uy tín ở tất cả các quốc gia.

Để đảm bảo hoạt động vận hành và trao giải VinFuture, những người sáng lập cam kết tài trợ số tiền ban đầu 2.000 tỷ đồng và sẽ được tiếp tục bổ sung trong tương lai để đảm bảo việc hoạt động lâu dài cho quỹ. Đơn vị trực tiếp quản lý Giải thưởng và triển khai các hoạt động là Quỹ VinFuture, một tổ chức phi lợi nhuận độc lập. Sát cánh ở vai trò tư vấn, hỗ trợ cho các Nhà sáng lập là Hội đồng Cố vấn gồm những nhà khoa học xuất sắc người Việt Nam do Giáo sư Vũ Hà Văn, Đại học Yale và Giáo sư Nguyễn Thục Quyên, Đại học California Santa Barbara làm đồng Chủ tịch.

“Tạo nên sự thay đổi tích cực để mang tới một cuộc sống tốt hơn cho mọi người luôn là mục tiêu của chúng tôi – trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống. Các biến cố của năm 2020 đã cho thấy hơn bao giờ hết, chúng ta cần đồng hành với những trái tim nhân hậu và khối óc lỗi lạc đang nỗ lực phát huy sức mạnh của Khoa học Công nghệ, giúp thế giới vượt qua những thử thách cam go và làm cho cuộc sống của nhân loại ngày càng tốt đẹp hơn.”, Chủ tịch Tập đoàn Vingroup Phạm Nhật Vượng và phu nhân Phạm Thu Hương chia sẻ về động lực sáng lập giải thưởng.

Giải thưởng VinFuture sẽ bắt đầu nhận đề cử cho mùa trao giải đầu tiên từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2021. Danh sách những người đạt Giải thưởng VinFuture sẽ được công bố vào tháng 12 năm 2021. Lễ trao giải chính thức sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 1 năm 2022./.

Một Hội đồng Giải thưởng độc lập sẽ chịu trách nhiệm xét chọn người đạt giải từ các đề cử bao gồm các nhà khoa học, nhà phát minh uy tín quốc tế đến từ các tổ chức giáo dục, nghiên cứu và các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Những thành tựu và đóng góp trong lĩnh vực khoa học – công nghệ của các thành viên Hội đồng Giải thưởng đã được ghi nhận trên phạm vi toàn cầu, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Có thể kể tới như Giáo sư Gérard Mourou, Đại học Bách Khoa Pháp – người đạt Giải Nobel Vật lý năm 2018; Giáo sư Sir Richard Henry Friend – Giáo sư Vật lý Cavendish tại Đại học Cambridge; Giáo sư Jennifer Tour Chayes – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Microsoft, Phó hiệu trưởng Trường Máy tính, Khoa học Dữ liệu và Xã hội, Đại học California, Berkeley; Giáo sư Michael Porter, Đại học Harvard, cha đẻ học thuyết “chiến lược cạnh tranh toàn cầu”; Giáo sư Sir Kostya S. Novoselov, Đại học Manchester – người đạt giải Nobel Vật lý năm 2010 ở tuổi 36…

Theo Thanh niên

Giải Nobel Y học 2020 được trao cho Harvey J. AlterMichael Houghton và Charles M. Rice. Ba nhà khoa học được trao giải vì đã có những đóng góp mang tính chất quyết định trong việc phát hiện virus viêm gan C và chứng minh đây là nguyên nhân chủ yếu gây viêm gan mạn tính, dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Đây là những vẫn đề sức khỏe toàn toàn cầu, đe dọa tính mạng của hàng triệu người trên toàn thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện có khoảng 71 triệu người nhiễm virus viêm gan C mạn tính trên toàn cầu và hàng năm có khoảng 400 nghìn người tử vong do biến chứng của bệnh này, chủ yếu là xơ gan và ung thư gan. Hiện đã có thuốc điều trị viêm gan C với hiệu quả lên đến 95% tuy nhiên việc tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh còn rất hạn chế. Vaccine phòng bệnh viêm gan C vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và phát triển.

Hiện đã có năm loại virus gây viêm gan được biết đến là virus viêm gan A, B, C, D, E. Hai virus viêm gan A và E lây truyền qua đường ăn uống, chỉ gây bệnh cấp tính và đa số tự khỏi và không để lại hậu quả lâu dài. Hiện đã có vaccine viêm gan A. Ba virus viêm gan B, C, D lây truyền qua đường máu, gây nhiễm trùng và tổn thương gan mạn tính, dần dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Virus viêm gan D chỉ phát hiện được trên nền bệnh nhân đã nhiễm viêm gan B và làm cho tình trạng viêm gan B nặng hơn nên trong thực hành lâm sàng không được chẩn đoán và điều trị riêng rẽ. Vaccine dự phòng viêm gan B đã được đưa vào Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam nhiều năm nay. Năm 1976, Baruch Samuel Blumberg đã nhận giải Nobel Y học cho việc phát hiện virus viêm gan B, phát triển xét nghiệm chẩn đoán cũng như vaccine phòng bệnh.

Vào thập niên 1970, Harvey J. Alter làm việc tại Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (US National Institutes of Health) nghiên cứu bệnh viêm gan ở những người bệnh được truyền máu. Việc xét nghiệm chẩn đoán viêm gan B đã giúp việc sàng lọc và loại trừ nhiễm virus viêm gan B qua đường truyền máu tuy nhiên Alter và cộng sự vẫn tỏ ra quan ngại sâu sắc vì vẫn còn một tỷ lệ lớn người bệnh vẫn bị viêm gan liên quan đến truyền máu dù đã qua sàng lọc viêm gan B. Họ đã làm thí nghiệm truyền máu của người bệnh nhiễm viêm gan mạn tính, đã loại trừ viêm gan B, sang tinh tinh và chứng mình rằng có một loại tác nhân gây viêm gan mạn tính khác chưa được biết đến, có khả năng lây truyền qua đường máu. Các nghiên cứu sau đó chứng mình rằng tác nhân này có đặc điểm của một loại virus, tạm được gọi là viêm gan “không A, không B”.

Việc phân lập được virus viêm gan C không hề đơn giản. Phải mất hơn mười năm sau, Michael Houghton, mới phân lập được trình tự gene của virus. Houghton và cộng sự đã thu thập được các mảnh DNA từ máu của tinh tinh nhiễm bệnh. Một phần lớn DNA này là của bản thân tinh tinh, nhưng nhóm nghiên cứu đã sử dụng kháng thể trong huyết thanh người bệnh để nhận diện các mảnh DNA mã hóa cho protein của virus viêm gan C.

Charles M. Rice, có những đóng góp tiếp theo trong việc chứng mình virus viêm gan C có thể là tác nhân độc lập gây nên bệnh viêm gan mạn tính. Rice và cộng sự đã dùng các kỹ thuật gene để tạo ra các biến chủng khác nhau của virus viêm gan C, và chứng minh vai trò gây bệnh của virus trên mô hình thực nghiệm ở tinh tinh bằng các bằng chứng virus trong huyết thanh và tổn thương gan đặc hiệu ở tinh tinh.

Các nghiên cứu về virus viêm gan C của các nhà khoa học đạt giải Nobel năm nay đã giúp chế tạo xét nghiệm chẩn đoán và thuốc điều trị bệnh viên gan C. Việc này giúp ích rất lớn không chỉ cho việc chẩn đoán, điều trị người bệnh nhiễm virus mà còn giúp dự phòng lây nhiễm từ những người đã nhiễm sang những người khác qua đường máu. Xét nghiệm virus viêm gan C nay đã khá phổ biến và được sử dụng để sàng lọc thường quy cho các chế phẩm máu cũng như người bệnh làm các phẫu thuật, thủ thuật nhưng thuốc điều trị viêm gan C ở Việt Nam giá còn cao và ít người bệnh được tiếp cận.

Tóm tắt những phát hiện của ba nhà khoa học đạt giải Nobel Y học 2020 theo trình tự thời gian. Các nghiên cứu mang tính phương pháp luận về viêm gan liên quan đến truyền máu của Harvey J. Alter đã chỉ ra rằng có một loại virus chưa biết tên là căn nguyên phổ biến gây viêm gan mạn tính. Michael Houghton sử dụng một chiến lược chưa có tiền lệ và đã thành công trong việc phân lập bộ gen của virus mới sau này được đặt tên là virus viêm gan C. Charles M. Rice hoàn thiệm cụm công trình nghiên cứu bằng việc cung cấp bằng chứng khoa học chứng minh rằng riêng virus viêm gan C cũng có khả năng gây viêm gan.
(Hình minh họa lấy từ Thông cáo báo chí giải Nobel Y học 2020)

Thông tin thêm về các nhà khoa học đạt giải Nobel Y học năm 2020:
Harvey J. Alter, sinh năm 1935 tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp trường y của Đại học Rochester và tốt nghiệp bác sỹ nội trú nội khoa tại Strong Memorial Hospital, Seattle. Alter làm việc tại Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) từ năm 1961.
Michael Houghton, sinh ra tại Vương Quốc Anh, tốt nghiệp tiến sỹ năm 1977 tại trường King’s College London. Houghton làm việc cho G. D. Searle & Company trước khi đến Chiron Corporation, Emeryville, California vào năm 1982. Ông chuyển đến Đại học Alberta, Canada năm 2010.
Charles M. Rice, sinh năm 1952 tại Sacramento, tốt nghiệp tiến sĩ năm 1981 tại the California Institute of Technology. Rice làm nghiên cứu tại Washington University School of Medicine, St Louis năm 1986. Từ năm 2001 đến nay, ông là giáo sư tại the Rockefeller University, New York.

Thông tin thêm về virus viêm gan C và bệnh viêm gan C:

Virus viêm gan C có thể gây ra cả viêm gan cấp tính và viêm gan mạn tính, có thể ở thể nhẹ kéo dài một vài tuần nhưng cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng lâu dài. Thời gian ủ bệnh (từ khi nhiễm virus đến khi khởi bệnh) có thể từ hai tuần đến sáu tháng. Sau khi nhiễm virus, khoảng 80% người bệnh sẽ không có triệu chứng. Những người có triệu chứng cấp tính có thể có biểu hiện sốt, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiểu sẫm màu, phân màu xám, đau khớp và vàng da, vàng mắt. Người bệnh tiến triển mạn tính có thể không có triệu chứng hoặc triệu chứng mờ nhạt âm thầm trong một thời gian dài cho đến khi tế bào gan bị phá hủy và xơ hóa dẫn đến xơ gan hoặc dưới nhiều cơ chế tác động của virus còn đang được nghiên cứu tế bào gan lành xuất hiện và tích lũy các đột biến gene và trở thành các tế bào ác tính, theo thời gian phát triển thành ung thư tế bào gan. Viêm gan C và viêm gan B đều có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan; nhưng nghiên cứu cho thấy viêm gan C gây xơ gan nhiều hơn và có nguy cơ gây ung thư gan cao gấp 2.5 lần so với viêm gan B. Ngược lại, viêm gan B lại có khả năng lây nhiễm cao gấp 5-10 lần viêm gan C. Viêm gan C thường lây truyền do các hành vi nguy cơ cao như tiêm chích ma túy, chăm sóc y tế thiếu an toàn trong khi viêm gan B thì thường là do lây truyền từ mẹ sang con.

TS. BS. Nguyễn Tuấn Anh, Giảng viên Đại học Y Hà Nội, Tiến sỹ Dịch tễ học Truyền nhiễm, Đại học Texas tại Houston, Hoa Kỳ.

Tài liệu tham khảo:
Alter HJ, Holland PV, Purcell RH, Lander JJ, Feinstone SM, Morrow AG, Schmidt PJ. Posttransfusion hepatitis after exclusion of commercial and hepatitis-B antigen-positive donors. Ann Intern Med. 1972; 77:691-699.
Feinstone SM, Kapikian AZ, Purcell RH, Alter HJ, Holland PV. Transfusion-associated hepatitis not due to viral hepatitis type A or B. N Engl J Med. 1975; 292:767-770.
Alter HJ, Holland PV, Morrow AG, Purcell RH, Feinstone SM, Moritsugu Y. Clinical and serological analysis of transfusion-associated hepatitis. Lancet. 1975; 2:838-841.
Alter HJ, Purcell RH, Holland PV, Popper H. Transmissible agent in non-A, non-B hepatitis. Lancet. 1978; 1:459-463.
Choo QL, Kuo G, Weiner AJ, Overby LR, Bradley DW, Houghton M. Isolation of a cDNA clone derived from a blood-borne non-A, non-B viral hepatitis genome. Science. 1989; 244:359-362.
Kuo G., Choo QL, Alter HJ, Gitnick GL, Redeker AG, Purcell RH, Miyamura T, Dienstag JL, Alter CE, Stevens CE, Tegtmeier GE, Bonino F, Colombo M, Lee WS, Kuo C., Berger K, Shuster JR, Overby LR, Bradley DW, Houghton M. An assay for circulating antibodies to a major etiologic virus of human non-A, non-B hepatitis. Science. 1989; 244:362-364.
Kolykhalov AA, Agapov EV, Blight KJ, Mihalik K, Feinstone SM, Rice CM. Transmission of hepatitis C by intrahepatic inoculation with transcribed RNA. Science. 1997; 277:570-574.
Press release: The Nobel Prize in Physiology or Medicine 2020. NobelPrize.org. Nobel Media AB 2020. Wed. 14 Oct 2020.
https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/2020/press-release/
World Health Organization. Hepatitis C fact sheet. 27 July 2020.
https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hepatitis-c
Baruch S. Blumberg – Facts. NobelPrize.org. Nobel Media AB 2020. Tue. 13 Oct 2020.
https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/1976/blumberg/facts/
US Center for Disease Control and Prevention. Hepatitis C Questions and Answers for the Public.
https://www.cdc.gov/hepatitis/hcv/cfaq.htm

Là một quỹ tư nhân mới ra đời, Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) đã mạnh dạn đặt mục tiêu tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu và đào tạo với cam kết tài trợ lâu dài và đủ mạnh, thậm chí chấp nhận rủi ro. Để làm được điều đó, VINIF cần tới một cơ chế vừa đủ chặt chẽ vừa linh hoạt cho phép Quỹ liên tục cập nhật để “chọn mặt gửi vàng” vào những nhóm nghiên cứu thực sự có tiềm năng.

Các nhà nghiên cứu Vabiotech đang tiến hành lấy mẫu máu chuột để đánh giá kháng thể đáp ứng miễn dịch sau tiêm vaccine. Vabiotech là một trong những đơn vị đã nhận được tài trợ của VINIF cho nghiên cứu về vaccine phòng COVID-19. Ảnh: nhandan.

Ra mắt từ tháng 8/2018 và được cộng đồng khoa học công nghệ rất quan tâm nhưng VINIF chỉ thực sự được đông đảo xã hội chú ý khi tài trợ khẩn cấp cho ba dự án về Covid vào tháng 3/2020 trong đó có một dự án đồng tài trợ cùng Bộ Khoa học và Công nghệ. Cú bắt tay giữa một đơn vị quản lý nhà nước về khoa học và một quỹ tư nhân để cùng tài trợ cho các nhóm nghiên cứu như vậy là điều hết sức mới mẻ của Việt Nam.

Đề cập đến đợt tài trợ đột xuất này, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương, Giám đốc điều hành VINIF, cho biết, sau khi trao đổi và được Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc hoan nghênh ý tưởng đồng tài trợ, chỉ trong vòng có mấy chục tiếng đồng hồ, một văn bản thỏa thuận với rất nhiều điều khoản mới như điều kiện hợp tác, quy trình rót một khoản kinh phí rất lớn (cả hai bên tài trợ 16 tỉ đồng), cách phối hợp đánh giá nghiệm thu đề tài… đã được hình thành. Vậy làm thế nào để một quỹ vừa mới thành lập hai năm đã có đủ kinh nghiệm để nhanh chóng tài trợ đột xuất, khẩn cấp theo cách này? “Bí quyết” để VINIF làm được việc này dựa vào hai từ “chặt chẽ và linh hoạt” trong cơ chế hoạt động, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương cho biết.

Quản lý chặt chẽ và linh hoạt

Sau hai năm hoạt động, VINIF đã tổ chức nhiều chương trình và hoạt động hỗ trợ, tài trợ cho viện nghiên cứu, trường đại học, nhóm nghiên cứu trẻ và các cá nhân, từ chương trình hỗ trợ nghiên cứu thường niên, học bổng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong nước cho đến cả các tài trợ nhỏ, ngắn hạn hơn như các hội thảo, tọa đàm và diễn đàn khoa học, cố vấn khoa học.

Để đảm bảo không hành chính hóa thủ tục và tài trợ một cách linh hoạt nhất cho các đề tài, VINIF không đưa ra một mốc thời gian cứng về tiến độ mà chỉ gợi ý chia ra làm ba giai đoạn, sau đó các chủ nhiệm đề tài tự xác định mỗi giai đoạn bao nhiêu tháng dựa trên đặc thù đề tài của mình.

Các khoản tài trợ cho các dự án và hoạt động nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đa dạng khác nhau như y dược học, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, robotics, tự động hóa, công nghệ nano, năng lượng tái tạo, nguyên liệu thế hệ mới… đều ở dạng “tài trợ mồi”, quy mô trung bình 5 tỉ và cao nhất có thể lên tới 10 tỉ/dự án.

Mục đích của VINIF, theo Giáo sư Vũ Hà Văn – Giám đốc Khoa học Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBigdata là góp phần tạo điều kiện cho “các nhóm nghiên cứu có được một khoản tiền đủ lớn để nghiên cứu được các sản phẩm mang tầm quốc tế” và để sau đó có được nền móng tốt tiếp tục con đường nghiên cứu phía trước. Trên thực tế, mức tài trợ của VINIF cũng tương đương với mức tài trợ của Mỹ cho một công trình nghiên cứu khoảng ba năm.

Để chọn được những nhóm nghiên cứu thực sự mạnh, có tiềm năng thực hiện thành công những nhiệm vụ lớn như vậy, VINIF đòi hỏi một quá trình xét duyệt hồ sơ chặt chẽ, đặc biệt là hội đồng phản biện gần như phải “đo ni đóng giày” cho từng đề tài chứ không thành lập một hội đồng chung. “Quá trình tìm người phản biện rất công phu vì các hồ sơ đến từ rất nhiều ngành khác nhau mà không phải cứ người đúng chuyên ngành là đã có thể phản biện được. Hội đồng khoa học đóng vai trò tiên quyết cho sự thành công của việc chọn lựa đề tài nhằm đảm bảo tính khoa học, công bằng và minh bạch”, PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương cho biết.

Về quy trình, Quỹ VINIF đang áp dụng việc thực hiện ba vòng phản biện cho tất cả các đề xuất tài trợ: Ở đợt phản biện đầu tiên, mỗi hồ sơ sẽ được ba nhà khoa học trong nước đọc; Vòng hai gồm 2 nhà khoa học, trong đó có nhà khoa học nước ngoài tiếp tục phản biện (ở vòng này các nhà khoa học sẽ đánh giá cả mức độ phù hợp trong đề xuất tài chính của dự án); Ở vòng cuối cùng, các chủ nhiệm dự án trực tiếp trình bày về dự án của mình trước một hội đồng 10 thành viên. Như vậy với 133 hồ sơ nộp vào năm 2020, qua ba vòng phản biện, đã có tới gần 500 lượt đọc và cần tới hơn 50 nhà khoa học tham gia các hội đồng để cuối cùng Quỹ đã chọn được 22 dự án khoa học công nghệ hướng ứng dụng (ngoài ra còn có 6 dự án công nghệ ứng dụng đã được xét duyệt trước đó).

Theo thông lệ phổ biến trong quản lý tài trợ khoa học, VINIF không rót kinh phí tài trợ một lần mà theo từng giai đoạn đăng ký của chủ nhiệm đề tài. Hết mỗi giai đoạn, các đề tài sẽ được hội đồng nghiệm thu tiến độ rồi mới nhận tiếp kinh phí của giai đoạn tiếp theo. Để đảm bảo không hành chính hóa thủ tục và tài trợ một cách linh hoạt nhất cho các đề tài, VINIF không đưa ra một mốc thời gian cứng về tiến độ mà chỉ gợi ý chia ra làm ba giai đoạn, sau đó các chủ nhiệm đề tài tự xác định mỗi giai đoạn bao nhiêu tháng dựa trên đặc thù đề tài của mình.

Từ hiện trạng thực tế mặt bằng công bố quốc tế ở Việt Nam đang tập trung vào số lượng nhiều hơn là hướng tới chất lượng ở các tạp chí top đầu, các nhà khoa học cũng khuyến nghị VINIF cần thảo luận xem có nên đặt ra tiêu chí về số lượng bài báo cần đạt hay không.

Nhờ linh hoạt trong những công việc quản lý thường xuyên như vậy nên VINIF ứng phó rất nhanh chóng với những trường hợp tài trợ đột xuất như các đề tài nghiên cứu về COVID-19 kể trên. Thay vì rót kinh phí cho các đề tài COVID-19 theo ba đợt với định mức 30%-30%-30% và cuối cùng là 10% khi nghiệm thu kết quả thì VINIF rót kinh phí cho các đề tài COVID-19 theo tỉ lệ 70%-30% để các nhóm nghiên cứu có ngay nguồn lực cho các nghiên cứu thực nghiệm.

Học hỏi và rút kinh nghiệm

Đánh giá chất lượng hồ sơ đầu vào và sản phẩm đầu ra là vấn đề quan trọng của các quỹ đầu tư cho khoa học. VINIF cũng không nằm ngoài phạm vi đó. Đây là lý do vì sao Quỹ dành nhiều thời gian và công sức vào mục tiêu xây dựng một danh mục tạp chí uy tín để phục vụ cho việc đánh giá hồ sơ và nghiệm thu tài trợ. Và cũng bởi có một thực tế khác là “các hội đồng không thể bao gồm hết các chuyên gia, các chuyên gia không đủ mạnh để đánh giá hết các đề tài”, theo nhận xét của giáo sư Ngô Việt Trung, Chủ tịch hội đồng ngành Toán Quỹ Phát triển khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED), nhận xét trong Hội thảo Nâng cao chất lượng công bố khoa học do VINIF tổ chức ngày 7/10 vừa qua.

Tuy nhiên để xây dựng được một danh mục tạp chí uy tín như mong muốn không đơn giản vì hiện nay có hiện tượng các tạp chí, kể cả thuộc Q1 nằm trong cơ sở dữ liệu của Web of Science – ISI hoặc Scimago có chất lượng rất chênh lệch. Do đó, chọn được một danh mục tạp chí phù hợp, nhận được sự chấp thuận của cộng đồng không chỉ là câu hỏi đặt ra đối với riêng VINIF mà là câu hỏi chung với bất kỳ một quỹ tài trợ nghiên cứu nào.

Trong phiên thảo luận, các chuyên gia đều thống nhất với mức hỗ trợ tài chính mà Quỹ VINIF đang hỗ trợ các dự án, việc thu hẹp danh mục tạp chí được nghiệm thu, đảm bảo chất lượng, uy tín là điều cần thiết phải thực hiện. Tuy nhiên, không nên chỉ dựa vào một danh sách tạp chí cố định, mà cần có một tiêu chí cụ thể và rõ ràng, kết hợp với đánh giá của Hội đồng xét duyệt, đặc biệt khi Quỹ VINIF đang tài trợ các dự án đa ngành, liên ngành, và cần sự đa dạng hoá.

Các nhà khoa học thuộc các hội đồng khoa học chuyên ngành đều tư vấn VINIF nên học theo kinh nghiệm xây dựng danh mục tạp chí của các quỹ đi trước, đã được thảo luận nhiều và đang được thống nhất sử dụng. “Nếu tự nhiên VINIF đưa ra danh mục riêng thì chắc khó đạt được sự đồng thuận trong cộng đồng khoa học”, theo PGS. TS Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam).

Lý do thứ hai để VINIF nên vận dụng danh mục của các quỹ đi trước vì quá trình rà soát các tạp chí từ đầu và xây dựng một danh sách riêng sẽ cần rất nhiều thời gian và nguồn lực con người, mà VINIF khó lòng đảm đương. Với kinh nghiệm cá nhân, giáo sư Ngô Việt Trung cho biết, các hội đồng khoa học cũng phải liên tục thảo luận và bàn bạc rất nhiều lần mới đưa ra được những tiêu chí về danh mục tạp chí uy tín để xét duyệt. Ví dụ, trong mười năm qua, hội đồng khoa học các nhiệm kỳ của Quỹ NAFOSTED (mỗi nhiệm kỳ 2 năm) cũng liên tục thảo luận để hoàn thiện, đưa ra các danh mục ngày càng phù hợp hơn. Qua gần 10 năm thì cách làm này cho thấy hiệu quả tốt.

Giáo sư Ngô Việt Trung cũng tư vấn, để xây dựng một danh mục chất lượng cao thì không nên để một nhóm nhà khoa học xây dựng, vì khi đó sẽ dẫn tới tình trạng bị tính chủ quan của từng người ảnh hưởng. VINIF nên dựa vào tiêu chí định lượng cứng: bắt đầu xuất phát từ cơ sở dữ liệu được cộng đồng thống nhất, ví dụ như danh mục Q1 của Web of Science hoặc Scimago, tiếp tục thu hẹp lại bằng việc chọn tốp đầu của Q1, sau đó cùng thảo luận với các chuyên gia uy tín của từng ngành để chốt danh mục.

Song song với đó, đặt mục tiêu nâng cao chất lượng công bố quốc tế ở Việt Nam, các nhà khoa học khuyến nghị VINIF cần thảo luận xem có đặt ra tiêu chí về số lượng bài báo cần đạt hay không? Nếu nhóm nghiên cứu phải chia ra đăng cho đủ số lượng thì chất lượng sẽ không bằng so với việc nhóm chuyên tâm, có thời gian dài hơi cho nghiên cứu và công bố, GS.TS Đặng Đức Anh, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương nêu.

Mục tiêu của Quỹ VINIF là thông qua việc tài trợ cho các dự án rất cụ thể để nhằm giới thiệu, hiện thực hóa một số mô hình phổ biến hữu dụng cho quá trình phát triển ở các nước, rất cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam nhưng người Việt đa phần chưa có những hình dung về các mô hình đó. Ví dụ như mô hình doanh nghiệp hỗ trợ nghiên cứu của các trường đại học đã rất phổ biến ở các nước phương Tây nhưng Việt Nam chưa có và cần phải được thúc đẩy. Một mô hình khác nữa là học tiến sĩ hoặc thạc sĩ toàn thời gian vẫn còn xa lạ ở Việt Nam thì các chương trình hỗ trợ học bổng, với số tiền vừa phải (khoảng hơn 10 triệu mỗi tháng) vừa đủ cho cuộc sống đơn giản của nghiên cứu sinh nhưng họ không phải lo về cuộc sống, mà dành thời gian để nghiên cứu. Đó là những mô hình nên trở nên phổ biến ở Việt Nam. Những gì chúng tôi làm chỉ có thể tác động một phần nhỏ cho cộng đồng những người làm nghiên cứu ở Việt Nam, nhưng nếu như nó tạo ra được cảm hứng, được nhiều người ủng hộ, nhiều người cùng làm, các doanh nghiệp khác cũng thúc đẩy thì có thể sẽ tạo ra thay đổi trong cả cộng đồng nghiên cứu và xã hội nói chung. GS. Vũ Hà Văn, Giám đốc Khoa học Viện Nghiên cứu dữ liệu lớn và Quỹ VINIF

Đặt thêm vấn đề về thời gian nghiệm thu, TS Nguyễn Việt Cường, Trường Đại học Kinh tế quốc dân nêu ra điểm chưa hợp lý trong nghiệm thu đề tài hiện nay “với quy định phải kiểm toán hằng năm, các chủ nhiệm đề tài nhà nước phải bằng mọi cách xuất bản trong thời hạn quy định (thường là 2 năm – PV), trong khi các tạp chí tốp đầu có thể mất tới hai năm mới đăng bài”. Do đó anh đề nghị VINIF có thể khắc phục điều đó bằng cách “linh hoạt hơn, không chỉ là hết dự án là nghiệm thu, mà hội đồng có thể đánh giá chất lượng và khả năng công bố trên các tạp chí top đầu tới đâu để gia hạn cho nhóm nghiên cứu”.

Theo Tia Sáng

Ngành công nghiệp vắc xin toàn cầu bị chi phối bởi những tên tuổi lớn như Pfizer, GlaxoSmithKline (GSK) hay Sanofi.

TS. Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (Vabiotech), Bộ Y tế, tin tưởng Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia trên thế giới sớm sản xuất thành công vắc xin.

Đề tài nghiên cứu, sản xuất vắc xin phòng coronavirus (Covid-19) vừa được Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF (thuộc Tập đoàn Vingroup) tài trợ triển khai, hứa hẹn đưa Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia trên thế giới sớm sản xuất thành công vắc xin.

TS. Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (Vabiotech), Bộ Y tế, tiết lộ về đề tài nghiên cứu được đánh giá là chưa từng có tiền lệ của Công ty. Đó là phát triển vắc xin chống lại chủng mới của coronavirus (Covid-19), mầm bệnh đang gieo rắc nỗi kinh hoàng trên khắp thế giới và đã cướp đi sinh mạng của hơn 2.000 người.

Dự án đầy tham vọng

Ngành công nghiệp vắc xin toàn cầu bị chi phối bởi những tên tuổi lớn như Pfizer, GlaxoSmithKline (GSK) hay Sanofi. Nhưng đến nay các tập đoàn hàng đầu này vẫn chưa đề cập ý định làm vắc xin phòng Covid-19. Vì sao Công ty lại tham gia vào việc nghiên cứu này?

Việc nghiên cứu, sản xuất vắc xin trước hết giúp chúng ta chủ động về nguồn cung, nhất là để phòng ngừa hay chấm dứt một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng đặc biệt nghiêm trọng như Covid-19. Thứ hai, mặc dù không ai mong muốn ở góc độ khoa học, điều kiện dịch bệnh là cơ hội giúp khẳng định năng lực nghiên cứu, vị thế của khoa học nói chung và y tế dự phòng của Việt Nam nói riêng.

Chúng ta có thể làm được, làm tốt thậm chí là đi đầu trong việc đóng góp cho thế giới. Bằng chứng là Việt Nam hiện là 1 trong 37 nước trên thế giới đạt Tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất vắc xin, tức vắc xin sản xuất ra có thể xuất khẩu.

Được biết đã có ít nhất 3 công ty được Liên minh sáng kiến đối phó với dịch bệnh (CEPI) tài trợ để phát triển vắc xin phòng Covid-19. Họ cũng tuyên bố có thể thử nghiệm trên động vật trong vài tháng tới. Công nghệ nghiên cứu mà Công ty sử dụng có gì khác biệt?

2 trong số 3 dự án mà CEPI tài trợ sử dụng công nghệ tổng hợp gen, dựa trên giải mã gen Covid-19 của các nhà khoa học Trung Quốc nên có thể đưa ra thử nghiệm trên động vật khá nhanh. Nhưng giai đoạn thử nghiệm và đánh giá trên người lại mất nhiều thời gian hơn và cũng không biết đến bao giờ mới thương mại hóa được.

Trên thế giới đến nay cũng chưa từng có vắc xin nào thương mại hóa được theo các công nghệ này. Các nhà khoa học cũng cảnh báo về nhược điểm của công nghệ này là không tạo được đáp ứng miễn dịch cao.

Còn loại vắc xin mà chúng tôi hướng đến là loại sử dụng protein. Công nghệ này tuy khó khăn ở bước đầu để tạo ra protein đáp ứng miễn dịch nhưng các bước sau thì sẽ đi nhanh hơn so với công nghệ tổng hợp gen.

Việc này giúp rút ngắn thời gian phát triển và sản xuất vắc xin, dễ nâng quy mô sản xuất và giảm giá thành, đáp ứng tốt nhu cầu về vắc xin trong trường hợp khẩn cấp khi xuất hiện các tác nhân gây bệnh mới, nguy hiểm như Covid-19. Tuy nhiên, do yêu cầu nghiêm ngặt trong quy trình phát triển vắc xin nên dù nhanh nhất và thuận lợi nhất thì cũng phải mất 12 tháng mới có kết quả.

Nếu thành công thì đề tài lần này sẽ có ý nghĩa như thế nào thưa Tiến sĩ?

Trong số rất nhiều chủng coronavirus có khả năng lây nhiễm ở người, đến nay mới chỉ có 3 chủng được đặt tên riêng vì dịch bệnh và hậu quả quy mô lớn mà chúng gây ra. Đó là SARS-CoV gây ra dịch năm 2003, MERS-CoV gây ra dịch năm 2012 và lần này là Covid-19. Cả 2 đại dịch lần trước, đáng tiếc là thế giới đều chưa có vắc xin nào được thương mại hóa. Bởi thế lần này nếu sản xuất thương mại được vắc xin phòng Covid-19 thì sẽ là một bước tiến rất lớn.

Chúng ta không thể dự báo được trong tương lai có thể có thêm chủng coronavirus nào mới xuất hiện và gây đại dịch ở người. Nếu tình huống xấu xảy ra, khi đã có trong tay công nghệ vắc xin rồi, lúc đó chỉ cần “lắp ráp” phần gen của chủng virus mới vào là rất nhanh sẽ có vắc xin mới. Nói cách khác, lần này nếu thành công thì sẽ là nền tảng để phát triển các vắc xin phòng đại dịch sau này chứ không chỉ riêng phòng coronavirus.

Tốn kém và rủi ro, nhưng cần làm

Phát triển vắc xin được xem là chương trình vô cùng tốn kém và rủi ro mà ngay cả các hãng dược phẩm hàng đầu thế giới cũng phải thận trọng. Sẽ ra sao nếu đây cũng là một dự án rủi ro như thế?

Để tạo ra được một loại vắc xin mới cần phải trải qua rất nhiều giai đoạn nhằm đảm bảo tính an toàn cũng như hiệu quả hoạt động của vắc xin. Nhưng không phải khi nào các dự án nghiên cứu cũng thành công. Có những loại vắc xin mà cả thế giới đều muốn có, như vắc xin phòng HIV, nhưng sau nhiều chục năm vẫn chưa thể tạo ra.

Bên cạnh đó là những nguy cơ như khi đi vào sản xuất thương mại thì dịch bệnh đã qua hoặc vắc xin bị rút phép, ngừng lưu hành vì tác dụng phụ… Lúc đó, doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại rất lớn. Trong khi, kinh phí để có được một loại vắc xin là vô cùng lớn. Đơn cử, phải mất cả triệu USD chỉ riêng cho khâu thử nghiệm trên người. Vì vậy, ngay cả các hãng dược lớn họ không phải lúc nào cũng sẵn sàng tham gia cuộc chơi.

Rủi ro và tốn kém là thế, song chúng tôi cho rằng nếu không bước đi đầu tiên thì sẽ không bao giờ đến đích cả. Việc gì cũng vậy luôn cần có người tiên phong.

Thông thường với các dự án nghiên cứu, sản phẩm đầu ra là yếu tố bắt buộc phải có để dự án được đầu tư hoặc cấp kinh phí. Vậy với dự án này thì sao thưa Tiến sĩ?

Đúng thế. Trên thực tế nhiều đề tài đã phải trả lại tiền khi không thành công, điều này gây áp lực lớn cho việc nghiên cứu khoa học. May mắn là với đề tài lần này, chúng tôi được Quỹ VinIF của tập đoàn Vingroup tài trợ.

Điều đáng nói, chúng tôi không chịu bất kỳ ràng buộc gì từ phía Quỹ VinIF. Tất nhiên, khi đã triển khai, cả hai bên đều mong muốn đề tài sẽ thành công nhưng quan trọng hơn cả là chúng tôi đều có chung mong muốn tạo ra một sản phẩm vắc xin cụ thể phục vụ cộng đồng.

Ở khía cạnh này, tôi nhìn thấy sự tương đồng của Quỹ VinIF và Quỹ Bill and Melinda Gates của vợ chồng tỷ phú người Mỹ chuyên tài trợ cho các chương trình, dự án với mục đích nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và giảm đói nghèo trên toàn cầu.

Chúng tôi hy vọng rằng, thời gian tới sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp như Vingroup, sẵn sàng chung tay cùng Nhà nước và các nhà khoa học trong các hoạt động nghiên cứu vì cộng đồng, an sinh xã hội.

Xin cảm ơn Tiến sĩ và chúc đề tài thành công!

Nguồn: http://khampha.vn/thong-tin-doanh-nghiep/du-an-nghien-cuu-vac-xin-phong-covid-19-do-vinif-tai-tro-co-the-co-ket-qua-trong-12-thang-toi-c41a757145.html

Với phương châm luôn chung tay trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, các nhà khoa học Việt Nam đã bắt tay, triển khai nhiều dự án cấp bách nhằm đẩy lùi COVID-19, dịch bệnh nguy hiểm nhất với nhân loại trong nhiều thập kỷ trở lại đây.  

Nhiệm vụ cấp bách

Tết năm nay có lẽ là cái Tết đặc biệt nhất với 300 cán bộ của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VSDTTW). Ngày 27, 28 Tết khi tất cả mọi hoạt động trên cả nước bắt đầu dừng lại cho kỳ nghỉ Tết thì toàn bộ nhân sự của Viện lại khởi động một quy trình khẩn cấp khi bệnh viêm phổi do chủng mới virus corona gây ra bắt đầu có những diễn biến khó lường tại Trung Quốc.

“Cường độ làm việc dịp Tết ở Viện thậm chí còn khẩn trương, vất vả hơn ngày thường vì đây là dịch bệnh mới, nguy hiểm, chúng ta lại ở sát với Trung Quốc”, GS. Đặng Đức Anh, Viện trưởng Viện VSDTTW, chia sẻ khi nhắc lại những ngày khuôn viên số 1 phố Yersin (Hà Nội) đêm nào cũng sáng đèn trong dịp Tết vừa qua. 

Công sức đã được đền đáp khi thành quả của các nhà khoa học Viện VSDTTW đã đưa Việt Nam trở thành nước thứ 4 trên thế giới phân lập thành công chủng virus corona mới, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu và phát triển vắc xin trong tương lai, cũng như đưa ra các biện pháp dự phòng hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều câu hỏi chưa được giải đáp về chủng virus mới với tốc độ lây lan chóng mặt và gây ra nhiều ca tử vong như COVID-19. Viện VSDTTW tiếp tục triển khai nghiên cứu ở quy mô toàn quốc với sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học từ Bắc vào Nam, nhận diện đầy đủ về chủng virus corona đang gieo rắc nỗi sợ hãi toàn cầu.

“Nếu trong chiến đấu biết địch biết ta sẽ trăm trận trăm thắng thì trong phòng dịch, tất cả các bên đều cần thông tin dịch tễ học về virus. Cả thế giới đều cần thông tin này chứ không chỉ riêng Việt Nam”, GS. Đặng Đức Anh nói về mục đích của nghiên cứu.

Trong khi đó, tại một góc khác của khuôn viên số 1 Yersin, 2 cán bộ của Công ty TNHH MTV Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (Vabiotech), Bộ Y tế, gấp rút chuẩn bị lên đường sang Anh ngay khi kỳ nghỉ Tết còn chưa kết thúc. Họ là thành viên của dự án đột xuất nghiên cứu, sản xuất vắc xin phòng virus corona theo công nghệ mới.

GS. Lê Thị Thu Hương (Viện trưởng Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Đại học Y HN) cho biết: “Từng nếm trải nhiều gian nan trong việc xin ngân sách phục vụ nghiên cứu, bà đã thực sự bị sốc khi nhận được tài trợ của Vingroup”.

“Để rút ngắn thời gian chế tạo vắc xin, chúng tôi tiến hành một số công đoạn nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm của đối tác ở Anh vì ở đó có thể đáp ứng được các yêu cầu về vật liệu và cơ sở vật chất”, TS. Đỗ Tuấn Đạt, Chủ tịch Công ty Vabiotech, tiết lộ.

Cũng theo TS. Đạt, việc tự nghiên cứu, sản xuất vắc xin giúp chúng ta chủ động về nguồn cung, nhất là để phòng ngừa hay chấm dứt một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng đặc biệt nghiêm trọng như COVID-19.

“Nếu dự án lần này thành công thì sẽ là nền tảng để phát triển các vắc xin phòng đại dịch sau này chứ không chỉ riêng phòng coronavirus”, TS. Đạt khẳng định.

Vị tiến sĩ mà tên tuổi gắn với nhiều dự án phát triển vắc xin đã tạo tiếng vang cho Việt Nam cũng cho rằng, dịch bệnh là điều không ai mong muốn nhưng đây cũng là cơ hội quý báu để khẳng định năng lực nghiên cứu, vị thế của khoa học nói chung và y tế dự phòng Việt Nam nói riêng.

Chia sẻ quan điểm với Chủ tịch Vabiotech, GS.TS.Lê Thị Thu Hương, Viện trưởng Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Đại học Y Hà Nội, lại trăn trở làm sao có thể cảnh báo sớm đồng thời xây dựng được kế hoạch đáp ứng khẩn cấp với những dịch bệnh nguy hiểm như COVID-19.

“Viện chúng tôi đang triển khai xây dựng mô hình để dự báo dịch dựa trên các dữ liệu đầu vào như báo cáo về các ca bệnh, tình hình giao lưu, đi lại của người dân, điều kiện môi trường… giống cách các nhà khí tượng dự báo thời tiết, đồng thời ước tính các nguồn lực cần thiết để ứng phó nếu dịch bệnh xảy ra”, GS. Hương giải thích.

Sốc vì… được tài trợ khẩn cấp

Ba dự án mà Viện VSDTTW, Công ty Vabiotech và Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng vừa triển khai nằm trong chương trình tài trợ khẩn cấp trị giá 20 tỷ đồng của Quỹ Đổi mới sáng tạo VinIF (thuộc Tập đoàn Vingroup) nhằm đẩy mạnh các biện pháp phòng chống sự lây lan của dịch bệnh, cung cấp thông tin hỗ trợ cảnh báo sớm, hướng tới chăm sóc, điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Chia sẻ về quá trình “thần tốc” 10 ngày xây dựng dự án, từ viết thuyết minh, thông qua hội đồng xét duyệt và ký kết hợp đồng triển khai, TS. Đỗ Tuấn Đạt thừa nhận điều này chưa hề có trong bất kỳ đề xuất nghiên cứu nào của Công ty từ trước đến nay. Thậm chí, rất nhiều cuộc trao đổi giữa nhóm nghiên cứu và Ban điều hành Quỹ VinIF diễn ra lúc nửa đêm.

“Trong điều kiện dịch bệnh thì các nghiên cứu ứng phó được xem là nhiệm vụ khẩn cấp, mà muốn làm nhanh, có kết quả sớm thì phải có kinh phí lớn và ngay lập tức. Đây là điều khó thực hiện nếu dùng ngân sách theo quy trình truyền thống”, TS. Đạt bộc bạch.

Tập đoàn Vingroup đã chung tay cùng các nhà khoa học Việt với số tiền 20 tỷ đồng để tài trợ khẩn cấp nhằm đẩy mạnh các biện pháp phòng chống sự lây lan của dịch bệnh, điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Trong khi đó, từng nếm trải nhiều gian nan trong việc xin ngân sách phục vụ nghiên cứu, GS. Lê Thị Thu Hương cho biết bà đã thực sự bị sốc khi nhận được tài trợ của VinIF – một quỹ của doanh nghiệp tư nhân.

“Vingroup phản ứng với các hiện tượng xã hội quá nhanh. Không chỉ kịp thời định hướng để các nhà khoa học xây dựng đề tài nghiên cứu, Tập đoàn còn rất chủ động và hào phóng trong việc tài trợ cho các nghiên cứu này”, GS. Hương xúc động chia sẻ.

PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương (Viện Toán học), Giám đốc Điều hành Quỹ VinIF cho biết, với vai trò là tổ chức hoạt động nhằm thúc đẩy các nghiên cứu khoa học công nghệ tại Việt Nam, trước diễn biến phức tạp và nguy cấp của dịch COVID-19, VinIF mong muốn tìm được đúng các nhóm nghiên cứu xuất sắc đang nỗ lực hoạt động để có thể tiếp sức cho các nhà khoa học trong việc ứng phó với dịch bệnh.

“Tài trợ cho nghiên cứu, đặc biệt là các dự án khẩn cấp phục vụ cộng đồng là điều bình thường trên thế giới – các doanh nghiệp coi đóng góp cho xã hội là trách nhiệm của mình. VinIF muốn khởi đầu, tạo tiền đề để nhiều doanh nghiệp khác cùng bước với chúng tôi”, PGS. Dương nói. 

MAI ANH – Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh

Hội đồng Khoa học do Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup thành lập đã phải gấp rút vào cuộc để chọn ra những dự án nghiên cứu cấp bách và có khả năng ứng dụng cao với mong muốn tự Việt Nam có thể tạo nên những sản phẩm chống lại dịch Covid-19. Điều đó được gửi gắm vào những dự án theo PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai là không những đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của xã hội mà còn mang tính quốc tế.

PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai – Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, đồng thời là thành viên Hội đồng Khoa học đã có những chia sẻ về quá trình này.

PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai đánh giá sự hỗ trợ của doanh nghiệp lúc này đã đáp ứng được ngay những yêu cầu cấp thiết về nghiên cứu khoa học trong thời kỳ bệnh dịch, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

– Xét duyệt 8 dự án trong thời gian gấp rút, hội đồng đã làm việc và đưa ra những tiêu chí thế nào để sự lựa chọn được chính xác?

Khi tôi nhận lời làm thành viên Hội đồng xét duyệt các dự án khoa học để Quỹ VINIF tài trợ, Quỹ yêu cầu tôi phải rất gấp để kịp thời ứng phó với đại dịch. Sự sốt sắng, nhanh chóng vào cuộc của Quỹ được hiểu là  sự chung tay cùng cộng đồng phòng chống dịch, nên  khi được mời là thành viên hội đồng, chúng tôi ý thức sự tin tưởng của Quỹ, vì vây bản thân tôi cùng các thành viên hội đồng cũng phải rất cố gắng, làm sao đáp ứng được yêu cầu nhanh, kịp thời, vừa phải đảm bảo lựa chọn được những dự án khoa học phù hợp với tiêu chí của Quỹ.
 
Yêu cầu trước hết đối với dự án được chọn là có hàm lượng khoa học tốt, có thể hoàn thành trong thời gian ngắn  và khả năng ứng dụng của nó trong hiện tại và có thể phát triển tiếp trong tương lai. Tiếp đó, chúng tôi đặt vấn đề ý nghĩa của dự án này đối với Việt Nam và quốc tế như thế nào? Chúng tôi xét rất nhiều yếu tố khác nhau và 2 dự án được chọn đã đáp ứng được những yêu cầu đó.

– Cụ thể, hai dự án khoa học được chọn có tính khả thi, tính ứng dụng như thế nào để có thể đáp ứng được yêu cầu của giới chuyên môn cũng như nhà tài trợ?

Cả 2 dự án đều đáp ứng được yêu cầu cấp bách của xã hội và mang tính quốc tế. Trước hết, phải nói đến dự án “Phát triển vaccine chống lại chủng mới của virus corona (COVID-19) trên giá thể baculovirus ở quy mô phòng thí nghiệm”. Vaccine là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống dịch. Việc nghiên cứu vaccine vô cùng cấp thiết, phải đảm bảo phòng chống dịch bệnh cho cả cộng đồng, chứ không phải chỉ một vài cá nhân đơn lẻ.

Dự án “Phát triển hệ thống cảnh báo sớm quốc gia về dịch bệnh COVID-19 toàn cầu nhằm đánh giá nguy cơ lây nhiễm và xây dựng kế hoạch đáp ứng khẩn cấp” cũng khiến tôi rất ấn tượng vì có khả năng dự báo dịch. Các mô hình dự báo/cảnh báo sẽ giúp cho định hướng các biện pháp phòng chống bệnh tại Việt Nam và hạn chế các ảnh hưởng đến kinh tế -xã hội.

– Sự đồng hành kịp thời của quỹ xuất phát từ doanh nghiệp tư nhân như VINIF có ý nghĩa như thế nào đối với nghiên cứu khoa học trong giai đoạn dịch bệnh hiện nay, theo bà?

Tài trợ này rất kịp thời, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của dự án. Nếu dịch chấm dứt rồi mới bắt đầu nghiên cứu thì sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, vì thế tài trợ của VINIF thực sự ý nghĩa với 2 dự án nghiên cứu trên. Dự án nghiên cứu vaccine thì luôn luôn là cấp thiết khi dịch bệnh  do căn nguyên virut xảy ra, vì nó mang tính chất bảo vệ cho cả một cộng đồng lớn. Có vaccine sớm ngày nào, chúng ta được bảo vệ sớm ngày đó.

Còn đối với dự án thứ hai, việc có được tài trợ của Quỹ rất quan trọng, đặc biệt trong thời điểm dịch bệnh đang diễn ra như hiện nay, vì nó giúp cho các nhà nghiên cứu có thể triển khai, thu thập được những số liệu về sự lưu hành của dịch bệnh, những số liệu dịch tễ học, càng nhiều càng tốt. Điều này rất quan trọng không chỉ trong bệnh dịch này, mà có thể áp dụng cho tất cả các bệnh truyền nhiễm khác nữa.

Sự hỗ trợ của doanh nghiệp lúc này không những góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn thúc đẩy những nghiên cứu, giúp sức biến những ý tưởng thành hiện thực.

Vingroup cũng là doanh nghiệp tư nhân đầu tiên chung tay cùng Nhà nước trong việc đẩy lùi COVID-19, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Tham gia hội đồng xét duyệt dự án lần này, với cách làm việc và điều hành của Quỹ, tôi cảm nhận được sự khoa học, cơ chế quản lý tiến bộ có thể gọi là “thoáng” đã đáp ứng được ngay những yêu cầu cấp thiết về nghiên cứu khoa học trong thời kỳ bệnh dịch.
 
Xin cảm ơn bà!

Hương Giang (Báo Đất Viêt)

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG

Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (Vingroup Innovation Foundation – VINIF) được tập đoàn Vingroup thành lập với chức năng hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo ra những thay đổi tích cực và bền vững cho Việt Nam. 

Hàng năm, Quỹ VINIF hỗ trợ các viện nghiên cứu, trường đại học, nhóm nghiên cứu trẻ và các cá nhân tham gia học tập, nghiên cứu khoa học công nghệ theo các chương trình sau:


Để triển khai các chương trình tài trợ, VINIF cần tuyển dụng chuyên viên Quản lý dự án làm việc toàn thời gian tại văn phòng Hà Nội.


Chức năng, nhiệm vụ:

  1. Truyền thông, phổ biến, giới thiệu thông tin về các chương trình, dự án được Quỹ tài trợ theo quy định.
  2. Tìm kiếm, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân có tiềm năng chuẩn bị hồ sơ đăng ký tham gia chương trình
  3. Tiếp nhận hồ sơ đăng ký, tổ chức đánh giá, xét chọn, hoàn thiện thủ tục ký kết hợp đồng tài trợ, theo dõi quản lý thực hiện, giải quyết vấn đề vấn đề phát sinh, giải đáp thắc mắc liên quan tới chương trình, dự án
  4. Xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia, điều phối các chuyên gia tham gia hiệu quả vào công tác đánh giá, xét chọn, tư vấn. 
  5. Theo dõi tiến độ, kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu và thanh lý hợp đồng các chương trình, dự án. 
  6. Lưu trữ, bảo quản hệ thống tài liệu, hồ sơ liên quan các chương trình, dự án và nội dung hoạt động theo đúng quy định của Quỹ
  7. Chủ trì và phối hợp tổng hợp, đánh giá hiệu quả hoạt động của các dự án đã được Quỹ hỗ trợ
  8. Xây dựng và quản lý các chương trình hợp tác song phương, đa phương với các đối tác trong nước, quốc tế
  9. Tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế, hội nghị trong nước, quốc tế;  phát triển, mở rộng quan hệ đối ngoại của Quỹ
  10. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Lãnh đạo Quỹ giao

Yêu cầu đối với vị trí công việc

  1. Trình độ chuyên môn và kỹ năng liên quan
  2. Tốt nghiệp đại học hoặc thạc sỹ, tiễn sĩ về chuyên ngành quản trị, khoa học quản lý, khoa học công nghệ hoặc chuyên ngành khác có liên quan,
  3. Kỹ năng quản lý, theo dõi giám sát tốt, sử dụng công cụ phù hợp để đạt kết quả, mục tiêu dự kiến,
  4. Kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động, kế hoạch tài chính, ngân sách, xây dựng báo cáo,
  5. Có khả năng giao tiếp, đọc, viết tốt bằng tiếng Anh và tiếng Việt, 
  6. Kỹ năng đàm phán, giải quyết vấn đề,
  7. Kỹ năng phối hợp, hợp tác, làm việc nhóm, xây dựng mạng lưới đối tác.,
  8. Hiểu biết chung về chu trình quản lý, các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng, mua sắm đấu thầu và lĩnh vực liên quan đến phạm vi công việc,
  9. Hiểu biết xu hướng khoa học công nghệ của quốc gia và định hướng, ưu tiên của Tập đoàn Vingroup.
  10. Kinh nghiệm làm việc thực tế
    • Ít nhất 3 năm kinh nghiệm thiết kế, xây dựng kế hoạch chương trình hoạt động; quản lý, giám sát thực hiện hoạt động và ngân sách, 
    • Điều phối, hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước, các đối tác là tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế,
    • Kinh nghiệm tổ chức các chương trình, sự kiện, hội nghị hội thảo, đoàn ra, đoàn vào.

Hồ sơ đăng ký
Ứng viên quan tâm gửi hồ sơ đăng ký tuyển dụng trước ngày 30/4 (càng gửi sớm càng tốt) qua email info@vinif.org hoặc qua bưu điện về địa chỉ 


Quỹ Đổi mới sáng tạo – VINIF
Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VINBDI

Tầng 5 – Tower 1, Times City
458 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam


Hồ sơ đăng ký bao gồm: 01 thư đăng ký (letter of application), CV (Curriculum Vitae) và bản sao bằng cấp, chứng chỉ liên quan. 

Sáng nay, ngày 13.5.2020, Quỹ Đổi mới sáng tạo thuộc Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn, Tập đoàn Vingroup, và Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã tổ chức buổi lễ ký kết hợp đồng tài trợ đề án“Đào tạo Thạc sĩ ngành Toán ứng dụng” thuộcChương trình Hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học và Công nghệ cácngành liên quan đến lĩnh vực Khoa học dữ liệu và Học máy. Đại diện hai bên tham dự lễ kí kết gồm: GS.TSKH. Phùng Hồ Hải – Viện trưởng và PGS.TS. Đoàn Trung Cường – Phó Viện trưởng Viện Toán học; Tiến sĩ Đào Đức Minh – Giám đốc Điều hành Viện Nghiên cứu dữ liệu lớn (VinBDI) và PGS.TSKH.Phan Thị Hà Dương – Giám đốc điều hành Quỹ Đổi mới sáng tạo (VinIF).

GS.TSKH. Phùng Hồ Hải, Viện trưởng Viện Toán học – Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương – Giám đốc điều hành Quỹ Đổi mới sáng tạo (VinIF) đại diện ký kết thoả thuận hợp tác

Nằm trong chiến lược thay đổi cách thức nghiên cứu khoa học công nghệ và tư duy đào tạo, phát triển của thế hệ khoa học tương lai tại Việt Nam, lễ ký kết đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ đối tác giữa Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VinBDI và Viện Toán học. Theo thoả thuận, hai bên sẽ phối hợp xây dựng và phát triển chương trình đào tạo thạc sĩ khoa học và công nghệ các ngành liên quan đến lĩnh vực Khoa học dữ liệu và Học máy, kết hợp lý thuyết chuyên sâu và ứng dụng thực tiễn.

Đồng hành cùng Viện Toán học – Viện nghiên cứu và đào tạo sau đại học ngành toán hàng đầu ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VinBDI hi vọng sẽ cùng nhau xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững, tạo lập nền móng phát triển các chương trình đào tạo sau đại học chất lượng, hiệu quả, đáp ứng đúng nhu cầu thực tiễn của thị trường khoa học và công nghệ, góp phần đưa nền khoa học công nghệ của Việt Nam tiệm cận gần hơn với trình độ thế giới, tiến tới kiến tạo các công trình nghiên cứu đạt đẳng cấp quốc tế, mang lại các giải pháp công nghệ với lợi ích thiết thực nhất cho người Việt.

Với thoả thuận hợp tác được kí kết, Quỹ VinIF – VinBDI sẽ hỗ trợ Viện Toán học hai tỷ đồng trong năm đầu tiên và định kì tổ chức nghiệm thu hàng năm để làm cơ sở kéo dài thời gian tài trợ. Các mục tiêu hỗ trợ bao gồm: Tăng cường chất lượng giảng viên; Mời giáo sư thỉnh giảng; Xây dựng, bổ sung giáo trình và bài giảng; Hỗ trợ sinh viên xuất sắc đến học tập và nghiên cứu với các nhà khoa học; Nâng cao năng lực, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học ở lĩnh vực của ngành mà cơ sở đào tạo xây dựng đề án mở ngành đào tạo trình độ thạc sĩ.

PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương – Giám đốc điều hành Quỹ Đổi mới sáng tạo (VinIF) chia sẻ về mục tiêu và phương hướng thực hiện Chương trình Hợp tác đào tạo thạc sĩ

Phát biểu tại buổi lễ, Giám đốc Quỹ VinIF – PGS. Phan Thị Hà Dương nêu bật thực trạng khó khăn trong việc xây dựng chương trình đào tạo thạc sĩ khoa học công nghệ tại Việt Nam cũng như nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội hiện nay. Mong muốn đóng góp vào sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VinBDI đã tiến hành thực hiện việc hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo, phát triển chương trình đào tạo thạc sĩ khoa học công nghệ theo hướng kết hợp lý thuyết chuyên sâu và ứng dụng thực tiễn: “Thông qua chương trình tài trợ và hợp tác, chúng tôi hi vọng có thể góp phần cùng Viện Toán học nói riêng và các đơn vị đào tạo nói chung trong việc xây dựng chương trình đào tạo thạc sĩ ở những giai đoạn đầu.”

GS.TSKH Phùng Hồ Hải, Viện trưởng Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nêu lên những hoạt động hợp tác dự kiến thực hiện.

GS.TSKH. Phùng Hồ Hải, Viện trưởng Viện Toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá cao chủ trương của Vingroup trong việc đầu tư cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, là Tập đoàn tư nhân đầu tiên tại Việt Nam triển khai chương trình tài trợ một cách bài bản, đồng hành cùng cơ sở đào tạo. Viện Toán học sẽ đồng hành cùng Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn trong hoạt động hợp tác phát triển chương trình đào tạo thạc sĩ khoa học công nghệ tại Việt Nam, ông kì vọng đầu vào thạc sỹ đảm bảo chất lượng cao kết hợp với sự tài trợ của Vingroup sẽ góp phần xây dựng đội ngũ nhân sự nghiên cứu khoa học công nghệ chất lượng cao trong tương lai cho Việt Nam.

Tiến sĩ Đào Đức Minh – Giám đốc Điều hành Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VinBDI chia sẻ về định hướng và sứ mệnh của Viện

Tại phần cuối của buổi lễ, Tiến sĩ Đào Đức Minh – Giám đốc Điều hành Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn chia sẻ về sứ mệnh Công nghệ Việt – Vì tương lai Việt của Vin BDI và tầm nhìn trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ, dữ liệu lớn nhất Việt Nam. Theo đó, mục tiêu hoạt động của Viện xoay quanh 03 mảng chính: Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu cơ bản mang tính dài hạn, tạo tiền đề phát triển bền vững cho xã hội và thế hệ tiếp theo của Việt Nam; Thay đổi cách thức nghiên cứu khoa học công nghệ và tư duy đào tạo, nghiên cứu phát triển của thế hệ khoa học tương lai của Việt Nam; và Nghiên cứu các công nghệ mới có tính ứng dụng cao, tăng trải nghiệm người dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống và tối ưu hoạt động sản xuất kinh doanh. Ông hi vọng bên cạnh hoạt động hợp tác đào tạo, Viện Toán học và Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn có thể đồng hành trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ khác, cùng nhau phát triển mối quan hệ hợp tác bền vững lâu dài.

Chương trình hợp tác đào tạo thạc sĩ khoa học và công nghệ các ngành liên quan đến lĩnh vực Khoa học dữ liệu và Học máy giữa Quỹ Đổi mới sáng tạo, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VinBDI và các Viện nghiên cứu, trường Đại học của Việt Nam nhằm hỗ trợ nguồn lực tài chính và công nghệ, mạng lưới tri thức và chuyên gia cho Cơ sở đào tạo và học viên cao học có điều kiện học tập, nghiên cứu đạt tầm quốc tế. Tham khảo thông tin chi tiết về chương trình tại: http://vinif.org/vi/chuong-trinh/hop-tac-dao-tao-thac-si

Nằm trong chuỗi Chương trình Hợp tác đào tạo thạc sĩ Khoa học và Công nghệ các ngành liên quan đến lĩnh vực Khoa học dữ liệu và Học máy, buổi lễ ký kết hợp đồng tài trợ đề án “Đào tạo Thạc sĩ ngành Khoa học Dữ liệu” giữa Quỹ Đổi mới sáng tạo thuộc Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn, Tập đoàn Vingroup và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã được tổ chức vào chiều nay, ngày 15.05.2020. PGS.TSKH. Vũ Hoàng Linh – Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương – Giám đốc Điều hành Quỹ đổi mới sáng tạo (VinIF) đại diện ký kết văn kiện này.

PGS.TSKH. Vũ Hoàng Linh – Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương – Giám đốc Điều hành Quỹ đổi mới sáng tạo (VinIF) đại diện ký kết thỏa thuận hợp tác

Kỷ nguyên số, sự bùng nổ của dữ liệu đặt ra một yêu cầu cấp thiết trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có đủ khả năng phân tích, nghiên cứu, kết hợp các kĩ năng thống kê, phân tích dữ liệu và kĩ năng tính toán cần thiết để thực hiện các phân tích trên dữ liệu có quy mô lớn. Để đáp ứng được nhu đó, nhiều chương trình đào tạo khoa học dữ liệu đã và đang được mở ra ở các nước phát triển. Đơn cử ở Mỹ hiện nay có hơn 90 chương trình đào tạo sau đại học trong lĩnh vực này. Tuy nhiên ở Việt Nam, chỉ mới có một số ít cơ sở đào tạo có chương trình đào tạo thạc sĩ định hướng khoa học dữ liệu thuộc chuyên ngành Khoa học máy tính.

Nhận thấy sự thiếu hụt về nhân lực khoa học dữ liệu chất lượng cao, đồng hành cùng Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, đơn vị đầu ngành của Việt Nam về đào tạo, nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học công nghệ, mang tính ứng dụng cao, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBDI hi vọng sẽ cùng nhau xây dựng chương trình đào tạo Thạc sĩ ngành Khoa học Dữ liệu chất lượng, hiệu quả, kết hợp hài hòa giữa lý thuyết chuyên sâu và ứng dụng thực tiễn. Với thời lượng đào tạo 2 năm, chương trình kì vọng sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, góp phần nâng cao chất lượng nhân lực khoa học nền tảng, từng bước thay đổi cách thức nghiên cứu khoa học công nghệ và duy đào tạo, phát triển của thế hệ khoa học tương lai tại Việt Nam.

Tham dự buổi ký kết, phía Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBDI có sự có mặt của TS. Đào Đức Minh – Giám đốc Điều hành VinBDI, PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương – Giám đốc Điều hành Quỹ đổi mới sáng tạo (VinIF). Phát biểu tại buổi lễ, PGS. Phan Thị Hà Dương cho rằng thách thức lớn nhất của các chương trình đào tạo thạc sĩ hiện tại tại Việt Nam là khâu tuyển sinh. Thực trạng hiện nay có nhiều bạn sinh viên chọn đi làm ngay khi tốt nghiệp thay vì học cao hơn. Theo đó, bà nhấn mạnh hoạt động hiện tại của Quỹ Đối mới sáng tạo, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn sẽ tác động hai chiều: chương trình học bổng cho thạc sĩ tiến sĩ cho nhóm học viên; đồng thời phối hợp cùng các trường, viện xây dựng các chương trình đào tạo chất lượng với định hướng hoàn toàn mới, để các thạc sĩ ra trường có thể đi làm trực tiếp trong các công ty doanh nghiệp.

PGS.TSKH. Phan Thị Hà Dương – Giám đốc Điều hành Quỹ Đổi mới sáng tạo, Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBDI chia sẻ về mục tiêu và phương hướng thực hiện Chương trình Hợp tác đào tạo thạc sĩ

Đại diện phía Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia lễ ký kết gồm: PGS.TSKH. Vũ Hoàng Linh – Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội; PGS.TS. Phó Đức Tài – Phó Trưởng Khoa Toán – Cơ – Tin học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội. Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học Tự nhiên PGS.TSKH. Vũ Hoàng Linh chia sẻ “Sự tài trợ của Quỹ đổi mới sáng tạo không chỉ về kinh phí để làm thế nào tăng được chất lượng đào tạo, mà còn có thể hợp tác thông qua các hoạt động: gửi sinh viên đến thực tập, các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn có thể tham gia giảng dạy, hướng dẫn đề án, bài tập lớn, hoặc luận văn thạc sĩ… Từ đó tạo nên sự hợp tác chặt chẽ cả đào tạo và nghiên cứu. Đây là quá trình hợp tác hai chiều, kết hợp để cùng cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho nhu cầu nghiên cứu khoa học thực tiễn tại Việt Nam.”

PGS.TSKH. Vũ Hoàng Linh – Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại buổi lễ

Đồng quan điểm với ý kiến từ phía trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, TS. Đào Đức Minh – Giám đốc Điều hành Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBDI cũng hi vọng sớm triển khai các chương trình kết hợp giúp tăng cường sự hợp tác giữa hai bên: các chương trình nghiên cứu khoa học, đào tạo, trao đổi nghiên cứu sinh, giao lưu học thuật giữa đội ngũ chuyên gia của cả hai đơn vị.

Tiến sĩ Đào Đức Minh – Giám đốc Điều hành Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn VinBDI chia sẻ về định hướng của Viện

Với thỏa thuận hợp tác được kí kết, Quỹ VinIF – VinBDI sẽ hỗ trợ trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội hai tỷ đồng trong năm đầu và định kì tổ chức nghiệm thu hang năm để làm cơ sở kéo dài thời gian tài trợ. Các mục tiêu hỗ trợ bao gồm: Tăng cường chất lượng giảng viên; Mời giáo sư thỉnh giảng; Xây dựng, bổ sung giáo trình và bải giảng; Hỗ trợ sinh viên xuất sắc đến học tập và nghiên cứu với các nhà khoa học; Nâng cao năng lực, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học ở lĩnh vực của ngành mà cơ sở đào tạo xây dựng đề án mở ngành đào tạo trình độ thạc sĩ.

Chương trình hợp tác đào tạo thạc sĩ khoa học và công nghệ các ngành liên quan đến lĩnh vực Khoa học dữ liệu và Học máy giữa Quỹ Đổi mới sáng tạo, Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – VinBDI và các Viện nghiên cứu, trường Đại học của Việt Nam nhằm hỗ trợ nguồn lực tài chính và công nghệ, mạng lưới tri thức và chuyên gia cho Cơ sở đào tạo và học viên cao học có điều kiện học tập, nghiên cứu đạt tầm quốc tế. Tham khảo thông tin chi tiết về chương trình tại: http://vinif.org/vi/chuong-trinh/hop-tac-dao-tao-thac-si